Đồ án tốt nghiệp MỤC LỤC. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG.Đại cương về các kim loại nặng và ảnh hưởng của chúng đến môi trường. Ô nhiễm kim loại nặng và hậu quả của chúng. Nhiễm độc Chì một hiểm hoạ môi trường.
Asen trong nước uống. Cadimi một kim loại độc hại hiện đại. Thiếc và sự ô nhiễm của nó. Động vật có vú ở biển và sự ô nhiễm toàn cầu do thiếc.
Các hợp chất cơ thiếc trong cá ở Nhật Bản và trong vịnh Aercachon. Ô nhiễm thuỷ ngân trong môi trường.3 CHƯƠNG II. MÔI TRƯỜNG NƯỚC HÀ NỘI VÀ NGUỒN GỐC GÂY Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG. Đặc điểm địa lý tự nhiên của thành phố Hà Nội.Đặc điểm điạ lý tự nhiên.
Đặc điểm kinh tế xã hội. Đặc điểm nước mặt của thành phố Hà Nội. Hệ thống sông. Hệ thống hồ ao.
Hệ thống mương. Đặc điểm nước ngầm khu vực Hà Nội. Tầng chứa nước Holoxen ( QIV).Tầng cách trầm tích Pleistoxen ( QIII). Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistoxen giữa trên (QII-III).Nguồn gốc gây ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước Hà Nội .3 Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44.
1 Đồ án tốt nghiệp CHƯƠNG III. CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC. Tổng quan các phương pháp xử lý kim loại nặng trong nước. Phương pháp kết tủa hoá học.
Phương pháp trao đổi Ion. Phương pháp điện hoá. Phương pháp oxy hoá- khử. Xử lý nước thải có chứa kim loại nặng bằng phương pháp tạo Pherit.
Vấn đề xử lý kim loại nặng trong nước thải tại Việt nam.3 CHƯƠNG IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KIM LOẠI NẶNG. Tổng quan các phương pháp phân tích kim loại. Xử lý mẫu để xác định hàm lượng kim loại nặng.
Xử lý mẫu xác định kim loại có thể tan trong axit. Xử lý mẫu để xác định tổng số kim loại nặng. Phân huỷ mẫu bằng HNO3. Phân huỷ mẫu bằng HNO3 và HCl.
Phân huỷ mẫu bằng hỗn hợp hai axit HNO3 và H2SO4. Phân huỷ mẫu bằng hỗn hợp axit HNO3 và HClO4. Phân huỷ mẫu bằng hỗn hợp axit HClO4, HNO3 và HF. Phân huỷ mẫu bằng phương pháp khô ( tro hoá ).
Phân huỷ mẫu bằng thiết bị vi sóng. Phương pháp quang phổ phát xạ nguồn Plasma ghép nối cảm ứng ( ICP- AES). Giới thiệu phương pháp.3 Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44. 2 Đồ án tốt nghiệp IV.
Áp dụng phương pháp ICP-AES xác định kim loại nặng trong mẫu nước. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) để xác định hàm lượng kim loại nặng. Xác định kim loại bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (Flame AAS). Phương pháp AAS dùng ngọn lửa Acetylen-không khí nén(Ac-Air) làm nguồn nguyên tử hoá.
Phương pháp chiết trước khi đo quang phổ dùng ngọn lửa không khí nén – Acetylen. Phương pháp cực phổ xác định hàm lượng kim loại nặng trong nước. Đặc điểm chung. Các phương pháp phân tích Von-Ampe.
QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ KẾT QUẢ. Các địa điểm lấy mẫu. Lựa chọn phương pháp phân tích. Kết quả phân tích kim loại nặng trong nguồn nước mặt Hà Nội.
Kết quả phân tích As trong các mẫu nước mặt. Kết quả phân tích tổng Cr, Zn trong các mẫu nước mặt. Kết quả phân tích Pb trong các mẫu nước mặt. Kết quả phân tích Cd trong các mẫu nước mặt.
Kết quả phân tích Fe, Mn trong các mẫu nước mặt. Một số kết luận từ kết quả phân tích ở trên. Kết quả phân tích kim loại nặng trong nước ngầm Hà Nội.3 Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44. 3 Đồ án tốt nghiệp Tài liệu tham khảo.
Trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp, em đã được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS. Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy. Em Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44. 4 Đồ án tốt nghiệp cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Viện khoa học và công nghệ môi trường và các bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành bản luận văn này.
Người thực hiện: Nguyễn Nhật Quang. TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG.Đại cương về các kim loại nặng và ảnh hưởng của chúng đến môi trường. Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5 g/cm 3. Chúng có thể tồn tại trong khí quyển (dạng hơi), thuỷ quyển( các muối hoà tan), địa quyển( dạng rắn không tan, khoáng, quặng.) và sinh quyển ( trong cơ thể con Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44.
5 Đồ án tốt nghiệp người, động thực vật). Cũng như nhiều nguyên tố khác, các kim loại nặng có thể cần thiết cho sinh vật cây trồng hoặc động vật, hoặc không cần thiết. Những kim loại cần thiết cho sinh vật nhưng chỉ có nghĩa “ cần thiết “ ở một hàm lượng nhất định nào đó, nếu ít hơn hoặc nhiều hơn thì lại gây tác động ngược lại. Những kim loại không cần thiết, khi vào cơ thể sinh vật ngay cả ở dạng vết ( rất ít) cũng có thể gây tác động độc hại.
Với quá trình trao đổi chất, những kim loại này thường được xếp loại độc. Ví dụ như niken, đối với thực vật thì niken không cần thiết và là chất độc, nhưng đối với động vật, niken lại rất cần thiết ở hàm lượng thấp. Với những kim loại cần thiết đối với sinh vật cần lưu ý về hàm lượng của chúng trong sinh vật. Nếu ít quá sẽ gây ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất, nếu nhiều quá sẽ gây độc.
Như vậy sẽ tồn tại một khoảng hàm lượng tối ưu của kim loại, và chỉ có giá trị ở đúng sinh vật hay một cơ quan của sinh vật mà nó có tác dụng, ở giá trị này sẽ có tác động tích cực lên sự phát triển hoặc sản phẩm của quá trình trao đổi chất. Kim loại nặng trong môi trường thường không bị phân huỷ sinh học mà tích tụ trong sinh vật, tham gia chuyển hoá sinh học tạo thành các hợp chất độc hại hoặc ít độc hại hơn. Chúng cũng có thể tích tụ trong hệ thống phi sinh học( không khí, đất nước, trầm tích) và được chuyển hoá nhờ sự biến đổi của các yếu tố vật lý và hoá học như nhiệt độ áp suất dòng chảy, oxy,nước. Nhiều hoạt động nhân tạo cũng tham gia vào quá trình biến đổi các kim loại nặng và là nguyên nhân gây ảnh hưởng tới vòng tuần hoàn vật chất hoá địa, sinh học của nhiều loại.
Mức độ ảnh hưởng của các hoạt động nhân tạo của các vòng tuần hoàn kim loại có thể định tính qua một số hệ số khác nhau. Bên cạnh các hệ số kỷ thuật, còn có một số yếu tố sau: Hệ số lan truyền IF( Interference factor) toàn cầu là tỷ lệ giữa lượng vật chất do nhân tạo của một kim loại đi vào khí quyển và lượng vật chất trong tự nhiên của kim loại đó. Hệ số tích tụ địa chất Igeo là logarit của tỷ lệ nồng độ nguyên tố trong trầm tích của sông và trong cơ thể sống: Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44. 6 Đồ án tốt nghiệp Igeo =log CF nồng độ kim loại trong trầm tích của sông.
BF nồng độ kim loại trong cơ thể sống. Hệ số tích tụ khí quyển(EF) là tỷ lệ giữa nồng độ tương đối của một kim loại trong khí quyển và trong vỏ Trái Đất dựa trên nồng độ của nhôm tương ứng: EF= Ảnh hưởng sinh học và hoá học của kim loại nặng trong môi trường còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ hoà tan của các muối, tính oxy khử, khả năng tạo phức và khả năng tích tụ sinh học. Ví dụ, muối của các kim loại dễ tan hơn muối của kim loại kiềm thổ nên chúng dễ đi vào thuỷ quyển hơn. Một số hợp chất kim loại có tính oxy hoá mạnh sẳn sàng tham gia các phản ứng trao đổi tạo nên các chất mới.
Các dẫn xuất của N, S dễ kết hợp với các cacbua kim loại nặng (Zn2+,Co2+,Mn2+,Fe2+.) tạo thành các phức chất bền vững. Một số kim loại nặng lại có thể tạo nên các bậc oxy hoá khác nhau bền vững trong điều kiện môi trường để tham gia phản ứng oxi hoá khử chuyển hoá thành chất ít độc hơn( Fe 2+/Fe3+). Một số kim loại tham gia phản ứng chuyển hoá sinh học với thành phần trong cơ thể sống tạo nên các hợp chất cơ- kim loại( alky hoá như (CH 3)2Hg, CH3Hg+,.) tích tụ trong sinh vật và gây tác động độc hại. Các kim loại nặng không phân bố đều trong các thành phần môi trường cũng như ngay cả trong một thành phần môi trường cho nên hàm lượng kim loại nặng ở một số khu vực địa phương thường rất có ý nghĩa trong quá trình tuần hoàn của kim loại.
Một số kim loại nặng tồn tại trong nước ở dạng hoà tan nhưng cũng có nhiêu kim loại nặng lại tạo thành trong nước ở dạng khó hoà tan và tham gia vào Nguyễn Nhật Quang- CNMTB K44. 7 Đồ án tốt nghiệp các chuyển hoá sinh học. Trong đáy biển có nhiều mỏ quặng kim loại ( ví dụ Mangan. Ô nhiễm kim loại nặng và hậu quả của chúng.
Ngày nay con người tiếp xúc trực tiếp với kim loại nặng ở nhiều dạng thức khác nhau. Kim loại nặng đã đi vào cơ thể con người và sinh vật qua chuỗi thức ăn. Loài người tiếp xúc lâu dài với các kim loại độc hại trong môi trường với liều lượng khác nhau. Giáo sư Jerome Nriagu thuộc trường đại học Michigan khẳng định: “ Hơn 1 tỷ người đã thành các vật thí nghiệm thực sự khi tiếp xúc với những kim loại độc có hàm lượng cao trong môi trường”.
Theo tác giả này, nhiều triệu người bị các chứng nhiễm độc kim loại dưới mức phát bệnh. Như ta sẽ thấy sau đây, phần lớn những người nhiễm độc ở các nước đang phát triển, Liên xô cũ và Trung Âu, nhưng có nhiều khu đô thị của các nước phát triển đã trở thành nơi bị ô nhiễm nặng bởi kim loại. Sự nhiễm độc ngày càng tràn lan, nhất là nếu như việc xả chất thải cứ tiếp tục theo mức độ hiện nay thì ta khó lòng hy vọng sự tăng trưởng này có khi nào giảm đi được. Trong một nghiên cứu số lượng kim loại xả ra trên toàn cầu, khẳng định là nó gia tăng ở thế giới thứ ba, có lẽ do việc các công nghiệp gây ô nhiễm nhất được đưa sang các nước phương Nam và giảm bớt ở các nước công nghiệp, do đó người và các sinh vật khác phải tiếp xúc với kim loại ở mức cao hơn nhiều so với mức họ vẫn sống”.
Về mặt này, thuỷ ngân, Crom,Cadimi, Chì ở trong số những kim loại nặng độc hại nhất, sau đó đến Đồng.