mở đầu cho những trận đánh phá ác liệt ở trong xã. Từ 30/6/1965 đến 27/12/1972, giặc Mỹ đánh vào Thượng Kiệm 164 trận với 709 bom phá, 6 bom định giờ, 27 bom từ trường, 6 bom bi mẹ bằng 3.600 bi con, 32 tên lửa, 152 quả rốc két, 14 bom xuyên, 20 lần đánh bằng đạn 20 ly, nếu tính trọng lượng toàn bộ số bom đạn là 413. Nhưng nhân dân Thượng Kiệm đã chiến đấu kiên cường, lực lượng vũ trang của xã đã đánh 56 trận, trong đó có 5 lần bắn trúng và 2 lần bắn rơi máy bay Mỹ. Đến năm 1972, xã Thượng kiệm có 573 người tham gia lực lượng vũ trang, đóng góp 45.000 ngày công phục vụ chiến đấu, đào 748 hầm Quảng Bình, 712 hầm mặt bằng, 7.386 hố cá nhân, 355 gia đình có hầm ngủ, 427 gia đình có lũy , 28 nhà làm cho mẫu giáo, 16 lớp học có đủ hầm hào, đắp 4 chỉ lung sở chỉ đạo phòng chống và đánh máy bay địch.
Thượng Kiệm là một địa phương có bề dày truyền thống lịch sử. Tất cả những người trong làng không kể già trẻ gái trai, đàn ông, đàn bà khi có giặc đều vùng lên đánh giặc. Với tất cả khả năng của mình họ đã chiến đấu để bảo vệ quê hương, bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần đoàn kết của những người dân trong làng rất cao, vì thế họ đã bảo vệ được làng quê của mình không để quê hương mình rơi vào tay kẻ thù.
Trong làng cũng có nhiều vị anh hùng có công lớn đánh giặc, nay tên tuổi của họ được ghi trong hồ sơ sổ sách của làng. 21 Sinh viên: Hà Giang Nam Lớp: BT29A Khóa luận tốt nghiệp Truyền thống lịch sử văn hóa của làng có từ lâu đời nay vẫn được tiếp tục được bảo tồn và phát huy. Xã Thượng Kiệm đã được Nhà nước tặng danh hiệu lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000. Diễn trình lịch sử Đình Thượng Kiệm 1.
Vài nét về Đình làng Việt Nam Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ. Kiến trúc đình làng vì vậy mang đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống. Đến thế kỷ 18, Việt Nam có chừng 11. Mỗi làng có một cụm kiến trúc nghệ thuật tôn giáo đình, đền, chùa với hàng trăm pho tượng và nhiều đồ trang trí thờ cúng khác nhau.
Đền thường thờ Thánh, có thể là Thánh mẫu tam tòa hoặc một vị Anh hùng dân tộc, chùa thì thờ Phật. Còn đình thờ thần Thành hoàng làng và chủ yếu là nơi hội họp bàn việc làng, lễ hội có chức năng như nhà Văn hóa bây giờ. Ngô Thì Nhậm đã viết: “Trời lấy đình để nuôi muôn vật Đất lấy đình để chứa muôn loài Người ta lấy đình để làm nơi tụ họp”. Từ đó có thể thấy, đình chính là ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã Việt Nam.
Nơi đây thực hiện ba chức năng chính: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Ba chức năng này không bao giờ tách biệt mà luôn đan xen, hòa quyện lẫn nhau. Tuy nhiên, tùy vào từng thời kỳ mà chức năng này có thể nổi trội và được phát huy cao độ hơn chức năng kia. 22 Sinh viên: Hà Giang Nam Lớp: BT29A Khóa luận tốt nghiệp Theo quan niệm kiến trúc, đình là một kiến trúc công cộng, bỏ ngỏ.
Thời xưa có rất nhiều loại đình: quán đình, dịch đình, trạm đình… thường được xây nơi biên ải, đường đi đón sứ giả nước ngoài, cho người qua đường tá túc. Giang đình – đình ven sông nơi bến đò cũng có chức năng như vậy. Kiều đình là cầu có nhà thường gọi là cầu ngói. Phương đình –đình vuông, Viên đình – đình tròn, là các kiểu kiến trúc xây dựng trong vườn hoa, hoặc lọt thỏm trong các kiến trúc đền chùa… Song, đình làng là một loại kiến trúc đặc biệt, là sản phẩm của văn minh làng xã phát triển ở một mức độ dân chủ và tự ti tương đối với chính quyền phong kiến.
Nhiều học giả cho rằng, làng xã là một cộng đồng nhiều gia tộc có nguồn gốc từ công xã thị tộc kiểu như buôn của người Tây Nguyên, làng của người Mường. Đình làng là ngôi nhà chung giống như nhà Rông. Hình ảnh ngôi nhà công cộng như vậy thấy ngay trên các họa tiết của trống đồng. Nhưng ở miền Bắc Việt Nam thời Lý - Trần (thế kỷ XI-XIV) làng xã chưa phát triển mà hình thức phổ biến là điền trang – thái ấp với quan hệ quý tộc – nông nô.
Sau khi thắng quân Minh, năm 1427, nhà Lê lập quốc thúc đẩy quan hệ địa chủ - nông nô với quần cư làng xã - một ý tưởng có từ thời Hồ Quý Ly được bổ sung và hoàn thiện. Và trong đơn vị hành chính phong kiến gồm thôn, xã, tổng huyện, tỉnh, thì làng không thuộc đơn vị nào. Làng to tự thành một xã, làng nhỏ thì mấy làng ghép lại mới thành một xã. Trên một miếng đất nổi, xung quanh có lũy tre xanh bao bọc, ngoài là đồng ruộng, làng là quần cư của vài hoặc nhiều dòng họ kết cấu theo địa lý tự nhiên.
Từ làng này sang làng kia có đường liên xã, liên huyện rồi ra tỉnh. Làng là tế bào căn bản của xã hội Việt Nam. Mỗi làng có tập tục riêng, lề thói riêng, bộ máy hành chính và văn hóa riêng nhưng đều giống nhau ở phương thức trồng lúa nước và nghề phụ thủ công. Vua chúa 23 Sinh viên: Hà Giang Nam Lớp: BT29A Khóa luận tốt nghiệp chỉ quản lý được lãnh địa riêng này thông qua bộ máy hương lý chủ yếu nhờ thu thuế chứ không bao giờ nắm được đến tận người dân.
Dù quốc gia có bộ luật nhưng hương ước và lệ làng vẫn trên hết: “phép vua thua lệ làng”. Đình làng là trụ sở hành chính của chính quyền dân cử trong một xã hội với giai tầng sỹ, nông, công, thương có thể chuyển đổi qua khoa cử. Cái trụ sở này tựu trung đủ mọi lề thói nông dân với toàn bộ nét văn minh và hủ lậu của làng xã: từ rước xách hội hè, khao vọng quan trên, đón người đỗ đạt, họp việc làng… đến hội họp rượu chè, xử kiện vụ tranh chấp ruộng đất, phạt vạ gái chửa hoang… nghĩa là tất cả các sự kiện chung của nông thôn đều kéo đến đình trình diễn. Ở đây cũng có những quy củ nhất định, có sự phân biệt chiếu trên, chiếu dưới.
Khi ăn cỗ, bậc hương lão, hương lý ngồi giữa đình, thấp hơn ngồi hai bên, còn thường dân ngồi ngoài sân đình. Trải qua các thời kỳ, tùy theo khả năng kinh tế, trình độ xây dựng của các tốp thợ và nhiều yếu tố chi phối khác, ngôi đình làng có thể được xây dựng với quy mô, kích thước, trang trí mỹ thuật khác nhau. Sơ khai của các ngôi đình xưa nhất được tìm thấy đến ngày nay có niên đại thuộc vào giai đoạn thời Mạc thế kỷ XVI chỉ có một tòa Đại Đình được bố cục theo hình chữ “Nhất” không có tường bao (thể hiện tính chất mở, chức năng sinh hoạt của làng xã của công trình). Sang thế kỷ XVII, do nhu cầu và phát triển của tín ngưỡng Thành Hoàng làng nên đình làng đã có sự biến đổi nhất định về kiến trúc, vào cuối thế kỷ này xuất hiện những ngôi đình có hậu cung mở rộng phần phía sau nối liền với tòa Đại Đình để có nơi thờ thần riêng (để thâm nghiêm hóa vị thần), tạo thành hình “chuôi vồ” hay còn gọi là hình chữ “Đinh”.
Nhưng vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, về mặt kiến trúc thì đình làng đã có sự đa dạng hơn, đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng cư dân 24 Sinh viên: Hà Giang Nam Lớp: BT29A Khóa luận tốt nghiệp làng xã về việc có một không gian đủ rộng cho việc thờ cúng. Tòa hậu cung, chốn thâm nghiêm phát triển thêm từ hình chữ “Đinh” tạo thành một tòa phía sau, song song với tòa Đại Đình. Trước tòa Đại Đình có dựng thêm một tòa “Tiền tế” đã làm cho mặt bằng công trình kiến trúc thành hình chữ “Công”. Bên cạnh đó, cũng phổ biến loại mặt bằng hình chữ “Công”, do làm thêm gian nối Đại Đình và Hậu cung.
Sang thế kỷ XVIII, ở một số đình, nhà tiền tế có xu hướng chuyển thành Phương đình. Từ thế kỷ XIX, trở về sau này ngôi đình làng đã có thêm vào hai bên của tòa Đại Đình hai dãy nhà tả vu và hữu vu để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng làng xã, cùng với nghi môn và tường rào phát triển về sau này đã tạo ra mặt bằng kiến trúc với các đơn nguyên kiến trúc phía trong là chữ “Công” và các đơn nguyên kiến trúc phía ngoài là chữ “Quốc”. Có thể nói, ngôi đình chưa bao giờ mất đi trong đời sống làng xã mà nó vẫn thực hiện chức năng vốn có của mình. Tính phi tôn giáo, tinh thần thế tục và cấu trúc điêu khắc đa hướng là thành tựu nghệ thuật có một không hai của văn minh Việt Nam dưới chế độ xã hội phong kiến.
Niên đại khởi dựng của di tích Gọi là đình Thượng Kiệm là gọi theo tên làng Thượng Kiệm, ở xóm 3 xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Di tích có tên là đình Thượng Kiệm - Tương truyền Thượng Kiệm là do cụ Nguyễn Công Trứ đặt, có nghĩa là “chuộng tiết kiệm” vì khi cụ đến lập ấp lễ hội chỉ có một buồng cau. Từ thành phố Ninh Bình, đi theo quốc lộ 10 xuống Kim Sơn, đến thị trấn Phát Diệm 28 km thấy một tấm biển chỉ dẫn lớn ghi “Di tích lịch sử đình Thượng Kiệm” rẽ phải 2km nữa là đến di tích đình Thượng Kiệm. Ngoài ra, tới di tích còn có một con đường khác đó là đường thuỷ.
Từ Thành Phố Ninh 25 Sinh viên: Hà Giang Nam Lớp: BT29A Khóa luận tốt nghiệp Bình xuôi dòng sông Đáy đến xuống Kim Sơn, đến ngã ba, nơi giáp nhau giữa sông Đáy và sông Trì Chính, rẽ phải khoảng 10 km nữa là đến di tích. Mỗi di tích khi ra đời dù sớm hay muộn đều phản ánh tư duy nghệ thuật cũng như tình hình kinh tế văn hóa xã hội của một thời kỳ lịch sử nhất định, đặc biệt là vai trò của sinh hoạt cộng đồng làng xã trong đời sống mỗi con người gắn với các hình thái tôn giáo. Do vậy, việc tìm hiểu niên đại khởi dựng của mỗi di tích là điều vô cùng cần thiết và đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học.