Chương 1 ĐÌNH NGÔ NỘI TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 1. Vài nét về vùng đất nơi di tích tồn tại 1. Vị trí địa lý - tên gọi di tích Đình Ngô Nội hiện nay thuộc địa phận làng Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Huyện Yên Phong có tên gọi từ trước thời nhà Trần, sách Bắc Ninh toàn tỉnh Dư địa chí có viết: “trị sở từ đời Trần trở về trước vẫn có tên gọi là huyện Yên Phong”.
Yên được hiểu là An 安, là mảnh đất xinh đẹp, thanh bình, hòa hợp; Phong 風là đầy đủ, phong lưu, giàu có, tốt đẹp. Huyện Yên Phong nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, có tọa độ địa lý khoảng từ 2108’45 đến 21014’30 độ vĩ Bắc và trong khoảng từ 105057’30 đến 10604’15 độ kinh Đông. Phía Bắc giáp với huyện Hiệp Hòa và huyện Việt Yên của tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp huyện Từ Sơn; phía Tây Nam giáp huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh; phía Tây giáp với huyện Đông Anh và huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Yên Phong có tổng diện tích tự nhiên là 9.868,11 ha, dân số là 123.719 người, mật độ dân số 1.277 người/ km2.
Địa hình chủ yếu là đồng bằng, độ cao trung bình so với mực nước biển là 4,5m. Được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trực tiếp là 3 con sông: sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ. Khí hậu nhiệt đới trung bình cả năm là 230C, nhiệt độ trung bình mùa nóng từ 24 - 290C, 3 tháng có nhiệt độ dưới 200C là tháng 12, tháng 1 và tháng 2; lượng mưa trung bình 1.512mm/năm; độ ẩm trung bình 82,5% [16]. 8 Nằm sát với trung tâm huyện lỵ Yên Phong, xã Trung Nghĩa có tổng diện tích tự nhiên là 777,11 ha, dân số là 9.283 người, mật độ dân số 1.195 người/km2.
Xã Trung Nghĩa nằm bên bờ Bắc sông Ngũ Huyện Khê, xã có chiều dài theo hướng Đông Nam - Tây Bắc khoảng 2500m. Phía Bắc xã giáp với đường tỉnh lộ 286 và đường quốc lộ 18; phía Nam giáp sông Ngũ Huyện Khê và xã Phú Lâm (Từ Sơn); phía Đông giáp xã Long Châu và xã Đông Phong; phía Tây giáp với xã Đông Thọ. Trước Cách mạng Tháng 8/1945, trên địa bàn xã Trung Nghĩa trước đó gồm có 4 xã, 1 thôn, nằm ở 2 tổng: + Xã Yên Từ, xã Đông Mơi thuộc tổng Mẫn Xá. + Xã Ngô Xá, xã Tiên Trà, thôn Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà.
Khoảng những năm từ 1889 - 1907, thôn Ngô Nội được tách ra thành đơn vị hành chính cấp xã. Địa bàn xã Trung Nghĩa thời điểm này gồm có 5 xã thuộc 2 tổng: + Xã Yên Từ, xã Đông Mơi thuộc tổng Phong Quang. + Xã Tiên Trà, xã Phù Lưu, xã Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà. Sau cách mạng Tháng, đầu năm 1946, đơn vị hành chính cấp tổng, cấp phủ bị xóa bỏ, một số xã nhỏ được hợp nhất thành xã lớn: + Xã Yên Từ, xã Đông Mơi hợp nhất thành xã Đông Từ.
+ Xã Tiên Trà, xã Phù Lưu, xã Ngô Nội hợp nhất thành xã Nội Trà. Năm 1948, xã Nội Trà sát nhập với xã Đông Từ thành xã Trung Nghĩa, Tên xã Trung Nghĩa là một biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống thượng võ gắn liền với truyền thống lao động sản xuất cần cù, sáng tạo. Đó là sự kết tinh của đức tính trung thực, chịu đựng hy sinh và tinh thần nghĩa hiệp cao cả của nhân dân toàn xã. Ngô Nội thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Từ năm 1963 – 1997, Ngô Nội thuộc tỉnh Hà Bắc, từ 1997 đến nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. 9 Hiện nay xã gồm có 5 thôn: Ngô Nội, Tiên Trà, Phù Lưu, Đông Mai, Yên Từ [16]. Làng Ngô Nội nằm ở khu vực trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của xã Trung Nghĩa. Phía Tây của làng giáp với thôn Phù Lưu; phía Đông giáp sông Ngũ Huyện Khê; phía Bắc giáp thôn Tiên Trà; phía Nam giáp với đường 179 cách 5km xuôi đường về phía Nam đi Từ Sơn, theo đường quốc lộ 1A cách 20km đi Hà Nội.
Ngô Nội là một trong bảy làng Chờ xưa, đó là: Chờ Phú Mẫn, Chờ Trung Bạn, Chờ Ngân Cầu, Chờ Tiên Trà, Chờ Ngô Nội, Chờ Phù Lưu, Chờ Nghiêm Xá. Trải qua các giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước, địa danh hành chính của làng cũng có nhiều lần thay đổi. Thời Lê - Nguyễn, làng Ngô Nội thuộc tổng Nội Trà, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngày đó tổng Nội Trà gồm 11 xã thôn: thôn Tiên Trà, thôn Phú Mẫn, thôn Trung Bạn, thôn Ngô Xá, thôn Nghiêm Xá, thôn Ngân Cầu, thôn Trác Bút, thôn Vọng Nguyệt, thôn Nguyệt Cầu, thôn Đông Xuyên, thôn Đông Lâu.
Khi đó, làng Ngô Nội còn có tên là Ngô Xá, tên Nôm là làng Ngò và chia thành 5 xóm theo 5 ngõ cổ: ngõ Tiền, ngõ Giữa, ngõ Xép, ngõ Đông, ngõ Dật. Trong mỗi ngõ có cổng đi chung, trên mỗi cổng có đặt chòi canh bảo vệ làng rất chặt chẽ. Say này, làng phát triển thêm 4 xóm là xóm mới 1, xóm mới 2, xóm Cầu và xóm đầu làng. Như vậy, làng Ngô Nội ngày nay là đất của 9 xóm gộp lại thành làng, trong làng có nhiều họ: Nguyễn Đình, Nguyễn Đức, Nguyễn Đăng, Nguyễn Nghiêm…Trong số các họ lớn lại chia ra các chi: chi trưởng, chi thứ [17].
Đình làng Ngô Nội là một ngôi đình đẹp, có nghệ thuật kiến trúc và trang trí kiến trúc độc đáo, được khởi dựng từ thời Mạc (thế kỷ XVI) và được 10 trùng tu lớn vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Đến nay đình vẫn còn lưu giữ được 3 sắc phong thời Mạc (bản sao), nhiều sắc phong thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn, Nguyễn và một số mảng chạm khắc trang trí kiến trúc từ thời Hậu Lê. Vì vậy, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là hết sức cần thiết và quan trọng. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã cử cán bộ chuyên môn của Ban quản lý di tích tỉnh về khảo sát, nghiên cứu di tích, tiến hành lập hồ sơ khoa học pháp lý cho di tích đình làng Ngô Nội, trình Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch xem xét xếp hạng cho di tích [8].
Xét trên những giá trị cơ bản của di tích, đình làng Ngô Nội đã được bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng đình là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo quyết định số 51/QĐ - BVHTTDL ngày 27 tháng 12 năm 2001 (Ảnh 1). Hiện nay, điều kiện giao thông phát triển nên có thể đi đến di tích một cách thuận tiện bằng các loại phương tiện giao thông đường bộ với các tuyến đường khác nhau. Từ thủ đô Hà Nội xuôi theo quốc lộ 1A về phía Bắc Ninh, đến giữa thị xã Từ Sơn thì rẽ trái vào đường tỉnh lộ 295, đi khoảng 7km nữa đến ngã tư thị trấn Chờ - trung tâm huyện lỵ Yên Phong thì rẽ phải vào đường tỉnh lộ 286, đi thêm khoảng 600m là tới đường vào đình làng Ngô Nội. Hoặc đi từ trung tâm thành phố Bắc Ninh theo đường tỉnh lộ 286 khoảng 14km tới đường vào thôn Phù Lưu, rẽ tay phải vào đường liên thôn là tới đình làng Ngô Nội (Ảnh 2).
Truyền thống văn hóa Ngô Nội là một làng Việt cổ hiện còn lưu giữ được bản sắc văn hóa độc đáo và phong phú thông qua các hoạt động tín ngưỡng tại đình, chùa và đặc biệt là việc thờ cúng tổ tiên. Trong tâm thức của người dân Ngô Nội nói riêng và người dân Việt nói chung, tục thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng. Đó là sự bày tỏ lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với tổ tiên. Trong các gia đình đều có ban thờ tổ tiên, được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà, họ tin 11 rằng tổ tiên mình luôn ngự trị trên đó để che chở phù hộ cho con cháu.
Vào các ngày mùng 1, ngày rằm, ngày lễ tiết hay trong gia đình có việc hiếu, hỷ… đều thắp hương thỉnh cầu tổ tiên về chứng giám. Giá trị lớn nhất của tục thờ cúng tổ tiên là tạo thành truyền thống, nếp sống cho các thế hệ sau luôn ghi nhớ và thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Tục thờ cúng tổ tiên còn tạo nên sự đoàn kết giữa những người cùng huyết thống, củng cố quan hệ gia đình, gia tộc thiêng liêng. Ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người dân Ngô Nội còn duy trì thường xuyên hoạt động tín ngưỡng ở đình, chùa.
Chùa làng có tên gọi là “Linh Quang tự”, tọa lạc trên một địa thế đẹp, cảnh quan đẹp, cây cối xanh tốt quanh năm, trong chùa có nhiều tượng Phật. Tại chùa hiện còn bảo lưu được nhiều di vật cổ vật có giá trị. Đình làng Ngô Nội thờ Thành hoàng làng là Quí Minh đại vương. Ông là cận thần của Tản Viên Sơn thánh, sau khi nghe tin Tản Viên Sơn thánh được vua Hùng truyền ngôi, Thục chúa bèn đem quân đến đánh.
Sơn thánh đã triệu tập binh mã, đưa em trai là Nghĩa Lĩnh Hầu làm tướng tiên phong. Quân Thục thua chạy, Sơn thánh dâng sớ tâu vua để nghi nhận chiến công của các tướng lĩnh. Vua phong cho Nghĩa Lĩnh Hầu là Quí Minh Đại vương, sau đó Sơn thánh cùng Nghĩa Lĩnh Hầu đem quân đánh Thục ở Lạng Sơn, nhân dân nô nức đi theo hưởng ứng chống giặc. Quân giặc thua chạy nhưng Nghĩa Lĩnh Hầu không may trúng tên bị thương.
Quân ta thắng trận chở về xứ Kinh Bắc, phủ Từ Sơn, huyện An Phong. Nhân dân xã Nội Trà đem lễ ra đón mừng. Nghĩa Lĩnh Hầu thấy ở khu Phú Mẫn có một khu gò có ao sâu và một con rồng uốn khúc, ông đi đến đây và hóa vào ngày 10/4 (âm lịch). Sau đó là gió mưa sấm chớp nổi lên, chỗ ông hóa biến thành một ngôi mộ lớn, nhân dân xin được lập đền thờ ông và tế lễ.
Ông được phong là Quí Minh đại vương thượng đẳng thần. 12 Để tưởng nhớ công lao của thần với dân với nước và mong thần phù hộ cho dân làng bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân Ngô Nội đã lập đền thờ và suy tôn ông làm Thành hoàng làng. Trong những phong tục tập quán xưa ở địa phương, còn duy trì được một số nghi lễ có xuất xứ và gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước như: lễ cầu mưa, cầu mát. Mỗi khi gặp hạn hán, dân làng Ngô Nội lại làm lễ cầu mưa.
Trước khi đi rước nước, dân làng sắm sửa lễ vật để ra đình lễ Thánh.