mở đầu là hướng Đông Nam để giáp đường đi tiện cho du khách thăm chùa. Cổng chùa được xây dựng hai trụ lớn tạo một lối đi ở giữa, hai bên là hai tường nối với hai trụ nhỏ, như vậy mang tính chất nghi môn là cổng của đền - đình. Qua cổng là một sân gạch có hai dãy hành lang ở hai bên. Cuối sân là con đường lên chùa mấy lần đổi hướng chữ chi và cũng nâng dần độ cao.
Cuối đường gạch, rẽ phải lên nhà bia kỷ niệm, rẽ trái đến tam quan kiêm gác chuông. Tam quan nằm trên trục tâm của khu Tam bảo, song hơi xoay lệch về phía Tây một chút. Phía dưới Tam quan là nhà Giá Ngự để ngày lễ rước kiệu 18 Thánh ra đây cùng nhân dân xem các trò vui tổ chức ở hồ bán nguyệt dưới chân núi gợi khúc song cong tụ phúc. Gác chuông chùa trăm gian là một trong số ít gác chuông cổ nhất hiện còn, có nhiều hình chạm rồng ở xen lẫn mây lửa thuộc cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII.
Đây là kiến trúc mặt nằng vuông, hai tầng tám mái với nhiều đao cong uốn hắt lên khiến công trình như một bong sen khổng lồ thanh quý. Từ Tam quan - Gác chuông đi theo trục tâm qua khoảng sân hẹp khoảng 7m, vượt 27 bậc đá lên sân cửa chùa dàn ngang rất hẹp. Giữa sân kê chiếc sập đá có đặt một bát hương. Lại leo thêm 7 bậc đá nữa lên thềm chùa, hoặc rẽ ra đầu sân bên trái rồi theo đường dọc hành lang để vào sân trong của chùa rồi lên khu Tam bảo từ phía sau nhà Hậu Đường.
Khu trung tâm của chùa là một tổng thể kiến trúc đông đặc trong đó các tòa Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện kết hợp với nhau thành một nội thất thống nhất theo chữ công, lại có hành lang dài ở hai bên ăn thông với Tiền đường ở phía trước và Hậu đường ở phía sau, bao lại thành một kiến trúc đóng có hình chữ quốc. Ngoài ra, khoảng sân sau Thượng điện trước Hậu đường dựng tòa Phương đình treo cả trống và khánh. Bên cạnh đó còn có vườn tháp mộ sư và 4 miếu tứ trấn ở 4 góc đồi. Chùa Trăm gian ngoài thờ Phật còn thờ đức thánh Bối.
Đức Thánh Bối tên tục là Nguyễn Bình An đã tu luyện ở đây thành Thánh với chức danh Bồ tát bình đẳng hành nghĩa, khi sống có tài đi mấy bước về quê Bối Khê lấy cà muối và nấu niêu cơm mà cả trăm thợ dựng chùa ăn không hết, khi hóa rồi còn làm mưa máu đuổi giặc Minh. Tương truyền năm 95 tuổi, ngày rằm tháng chạp, nhân dân lễ Phật thành đạo. Ngài vào khám ngồi nhập tịch. Đến mồng 4 tết dân ngửi thấy mùi thơm mới mở khám xem, từ đấy thành ngày hội chùa hàng năm.
19 Ngoài ra, chùa Trăm gian còn phối thờ Đô đốc Đặng Tiến Đông - Một vị quan võ thời Tây Sơn. Theo gia phả dòng họ Đặng ở Lương Xá có ghi rằng: Năm Giáp Dần (1794), Đô đốc Đặng Tiến Đông lúc đó đã cáo quan về nghỉ tại quê hương. Ông cúng 8 mẫu ruộng, 400 quan tiền và tu tạo lại chùa Trăm gian (Quảng Nghiêm Tự) ở xã Tiên Lữ nay là thôn Tiên Lữ xã Tiên Phương - huyện Chương Mỹ. Nơi đây, tổ phụ của ông đã có nhiều công đức tu tạo, để ghi nhớ công đức đó, người dân trong vùng đã cùng nhau góp tiền tạc tượng chân dung của ông thờ ở chùa ngay khi còn sống.
Tương truyền, bức tượng giống đến mức khi rước vào chùa người xem không phân biệt được kiệu người hay kiệu tượng. Với việc được thờ ở hai nơi trong cùng huyện Chương Mỹ đã chứng tỏ cho chúng ta thấy sự ảnh hưởng cũng như công lao to lớn mà vị Đô đốc họ Đặng đã đóng góp cho nhân dân trong vùng. Ông không chỉ còn là một nhân vật lịch sử đơn thuần nữa mà đã trở thành một vị thần trong lòng người dân Chương Mỹ nói riêng và nhân dân nói chung. Tôn giáo, tín ngưỡng Với truyền thống văn hóa của mình, xã Lam Điền nói chung và làng Lương Xá nói riêng cũng có đình, đền, chùa, nhà thờ…biểu thị sức sống mãnh liệt của cộng đồng làng xã Việt Nam, tinh thần tôn trọng, thờ phụng tổ tiên người có công với nước, đồng thời thể hiện trí óc thông minh, bàn tay khéo léo của người dân địa phương trong quá trình xây dựng các công trình phục vụ sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong vùng.
Tôn giáo o Phật giáo Trước khi có đạo công giáo được truyền bá vào Lương Xá và trở thành một bộ phận của tôn giáo trong làng, thì đại bộ phận cộng đồng dân cư thôn Lương Xá đều theo đạo phật nên ở nơi đây ta có thể tìm thấy công trình kiến 20 trúc phật giáo là chùa Thủy Lâm. Nhưng từ thế kỷ XV cho đến cuối thế kỷ XIX, khi Nho giáo phát triển và nhất là đạo Công giáo xâm nhập vào cộng đồng dân cư ở đây thì đạo phật không còn chiếm được vị trí như trước nữa. Hiện nay, trong thôn có khoảng 30 hộ với hơn 120 người theo đạo phật và chịu ảnh hưởng của tư tưởng phật giáo. Với sự hiện diện của các tôn giáo khác, đạo phật không còn là tôn giáo phổ biến nhất ở Lương Xá nữa nhưng cùng với thời gian đạo phật vẫn luôn sống trong tâm thức của người dân làng Lương Xá và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể bức tranh tôn giáo đa sắc trong vùng.
Ngôi chùa Thủy Lâm với tư cách là ngôi chùa duy nhất trong thôn, minh chứng cho sự tồn tại của Phật giáo tại nơi đây đã trở thành một trung tâm sinh hoạt tôn giáo, là nơi để mọi người đến cầu cúng những điều an lành, hạnh phúc cho cuộc sống, là nơi để họ có thể trút bỏ những phiền não, bộn bề của trần tục để đến với không gian tĩnh lặng, yên bình, thư thái của Phật pháp. o Nho giáo Sự đề cao việc học, tôn vinh người thầy, coi trọng bậc hiền tài đã tạo nên một truyền thống giáo dục hàng nghìn năm ở Việt Nam. Xuyên suốt hàng thế kỷ nay, thậm chí cả những bà mẹ nghèo nhất cũng mơ ước con mình sau này sẽ thi đỗ cử nhân, tiến sĩ. Vào cuối thế kỷ thứ ba trước công nguyên, khi xâm lược Việt Nam, người Phương Bắc đã du nhập vào đây chữ hán và Khổng giáo.
Tuy nhiên trong suốt 1000 năm Bắc thuộc này, họ chỉ dạy chữ Hán cho người Việt ở mức đủ để trở thành những thuộc hạ thừa hành mẫn cán mà thôi. Năm 938 sau công nguyên, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, người Việt Nam đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc ra khỏi bờ cõi nước Nam. Tuy nhiên, sau đó các triều đại 21 Đinh, Lê non trẻ vẫn phải đánh dẹp thù trong giặc ngoài nên không có nhiều thời gian dành cho việc khuyến học. Bước ngoặt trong nền giáo dục Việt Nam diễn ra khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi năm 1010 và quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long.
Đến năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu để tôn vinh Khổng Tử cùng các môn đệ của Ngài. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên ở Việt Nam để đào tạo các quan lại cho chính quyền. Lúc đầu, Quốc Tử Giám chỉ tuyển con trai các gia đình hoàng tộc và công khanh, đại phu. Về sau, con trai thường dân, nếu có tài năng cũng có thể được sung vào trường.
Quốc Tử Giám tiếp tục đào tạo tiến sĩ cho đến năm 1802, khi vua Gia Long dời đô về Phú Xuân (Huế). Hòa cùng với dòng chảy phát triển Nho giáo ở Việt Nam, thôn Lương Xá cũng rất tự hào là nơi nuôi dưỡng và sản sinh ra những người con ưu tú giúp ích cho nước, cho dân. Văn hóa nho giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa cư dân nơi đây từ thế kỷ XV. Nho giáo đã ảnh hưởng ngay trong từng nét sinh hoạt, thờ cúng của nhân dân nơi đây.
Ngay cạnh ngôi đình làng Lương Xá là một ngôi nhà 5 gian 2 chái, trước kia đó là Văn chỉ của tổng Lương Xá được người dân xây dựng để thờ Khổng tử và các bậc tiên hiền đi trước của làng. Xưa kia, trước mỗi lần nhân dân tổ chức lễ hội tại đình làng, các bài văn tế đều được các nhà nho hay chữ trong làng viết tại văn chỉ này. Sự xuất hiện của văn chỉ và truyền thống khoa bảng tại Lương Xá đã cho ta thấy đây là một vùng đất “Địa linh nhân kiệt” hiếu học, giàu truyền thống lịch sử, việc giữ gìn và phát huy những truyền thống đó là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của thế hệ mai sau tại Lương Xá. 22 o Đạo Công giáo Từ những tư liệu thực tế và cung cấp của người dân theo đạo cho biết, từ cuối thế kỷ XIX, đạo Công giáo đã xâm nhập vào đất Lam Điền, trở thành nhu cầu sinh hoạt của một bộ phận dân cư các thôn Lam Điền, Ứng Hòa, Duyên Ứng, Lương Xá.
Xã Lam Điền có 5 thôn thì 4 thôn có người theo đạo Công giáo. Người theo đạo công giáo và những người theo đạo phật ở xen kẽ với nhau. Mỗi thôn đều có nhà thờ để các tín đồ thực hành nghi lễ, riêng xã Lam Điền có 2 nhà thờ: nhà thờ Lương Xá xây dựng năm 1937, nhà xứ Lam Điền xây dựng năm 1940. Những công trình kiến trúc này đã mang đến một nét văn hóa mới, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho người dân Lam Điền.
Hiện nay, thôn Lương Xá có hơn 50 hộ với hơn 200 người theo đạo. Từ khi đạo Công giáo được du nhập vào vùng đất Lương Xá tới nay, đã tạo ra tính đa dạng văn hóa tôn giáo ở một làng quê, tuy nhiên trên thực tế đạo Công giáo có ảnh hưởng đến văn hoá Việt Nam và ngược lại văn hoá nước ta cũng ảnh hưởng đến tôn giáo này. Chính quá trình tương tác hai chiều này vừa làm phong phú văn hoá dân tộc vừa làm biến đổi, “Việt hoá” đạo Công giáo theo đường hướng “ Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” của Giáo hội Công giáo Việt Nam là kết quả của sự tương tác đó. Yêu nước là truyền thống của người Việt Nam và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt văn hóa Việt.
Trước khi cách mạng tháng Tám thành công, dưới thời thực dân Pháp, chúng thường lợi dụng tự do tín ngưỡng của nhân dân để gây chia rẽ lương giáo.