đặt vấn đề và giải quyết khác nhau, 10 1 nhưng có một điểm chung đáng được quan tâm là: Các Bộ và cơ quan Nhà nước, phải thông báo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước biết vẻ việc viên chức kế toán quản lý tiền của Nhà nước và các Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà nước phải chuẩn bị sổ sách kế toán, làm các báo cáo và nộp cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước để kiểm tra. Nét đặc trưng này tự nó nói lên rằng Kiểm toán Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trrong việc thúc đẩy hoàn thiện chất lượng kế toán ở các cơ quan hành chính cũng như các tổ chức kinh tế. Điều đó cũng khẳng định rằng, phải , đặt công tác kế toán không chỉ dưới sự quản lý của từng cơ quan, đơn vị và Bộ Tài chính mà cần phải đặt đưới sự kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước. Tóm lại, có thể có những cách tiếp cận khác nhau về vai trò Kiểm toán Nhà nước, ở đây chỉ tập trung nêu các vai trò nổi bật nhất của Kiểm toán Nhà nước.
Vị trí của cơ quan Kiểm toán Nhà nước: Vị trí pháp lý của cơ quan kiểm toán tối cao (SA) của các quốc gia cơ bản dựa trên định hướng cơ bản của tuyên bố LIMA đã được INTOSAI thông qua vào tháng 10/1977. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể chế chính trị riêng, tổ chức bộ máy nhà nước mỗi quốc gia do Hiến pháp quy định và đo đó vị trí của cơ quan kiểm toán tối cao của mỗi nước có những vị trí khác nhau phù hợp với thể chế chính trị của mỗi nước. Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu quản lý. Ở nước ta sự ra đời của Kiểm toán Nhà nước thuộc hệ thống hành pháp của Nhà nước, thực hiện chức năng kiểm tra tài chính công phục vụ quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
Hiện nay về mặt pháp lý, vị trí này của KTNN là cơ quan thuộc Chính phủ. Vị trí đó hay còn gọi là địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước khẳng định sự tồn tại khách quan và được xác định trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước. Chức năng của Kiểm toán Nhà nước 3. Chức năng xác mình: Xác mình là chức năng cơ bản nhất gắn liên với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán.
Chức năng này khẳng định mức độ trung thực của tài liệu và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ 11 1 hay việc lập các bản khai tài chính. Bản thân chức năng này không ngừng phát - triển và được thể hiện khác nhau tuỳ thuộc đối tượng cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán. Đối với các bản khai tài chính, việc thực hiện chức năng xác minh này trước hết được thực hiện ở sự xác nhận của người kiểm tra độc lập từ bên ngoài. Do quan:hệ kinh tế phát triển ngày càng cao nên việc xác minh bản khai tài.
chính cần có hai mặt, đó là tính trung thực của các con số và tính hợp thức hoá của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.__ Đối với các thông tin khác đã được lượng hoá, thông thường việc xác minh. được thực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ. Hệ thống kiểm soát nội bộ là việc các đơn vị tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát các quy định, các phương pháp và trình tự kiểm soát được thiết lập nhằm điều chỉnh các hoạt động của đơn vị. Kết quả cuối cùng sau khi đã xác minh được điều chỉnh để.
thông tin bảo đảm độ tin cậy cao. Đối với nghiệp vụ kiểm toán, cũng qua lịch sử phát triển lâu dai. Lúc đầu các nghiệp vụ được giới hạn ở hoạt động tài chính. Ở hoạt động này, tuỳ theo phạm.
vi và mức độ hệ trọng của nghiệp vụ, chức năng xác minh của kiểm toán có thể được thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt động xác mình này thường là những biên bản (biên bản xử lý sai phạm, biên bản thanh tra các vụ việc cụ thể, biên bản kiểm kê .) Mãi tới cuối thế kỷ X%X, kiểm toán nghiệp vụ mới được mở rộng ở lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả hoạt động. Ở lĩnh vực này kiểm toán hướng nhiều vào việc thực hiện chức năng thứ hai là “bầy tỏ ý kiến”. Trong chức năng xác minh của kiểm toán; Về nhận thức, kiểm toán cần tạo niềm tin cho những người quan tâm, nên nói chung không cho phép sai sót trọng yếu, trong đó có sai sót và gian lận quy mô lớn.
Trong khi đó cũng có quan niệm cho rằng kiểm toán viên không có nghĩa vụ phát hiện tất cả sai sót. Thậm chí có quan điểm cho rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện sai sót và coi đây là trách nhiệm của nhà quản lý. Chức năng bẩy tỏ ý kiến: Qúa trình phát triển lau dài của kiểm toán cho thấy rằng sản phẩm cụ thể chỉ thấy rõ ở thời kỳ phát triển chủ yếu vào cuối thế 12 » J ky XX. Tuy nhién, ngay nay ở thời kỳ ngắn ngủi này, cách thức thể hiện chức năng bẩy tỏ ý kiến cũng rất khác biệt giữa các chủ thể kiểm toán và giữa các nước có cơ sở kinh tế và luật pháp khác nhau.
Ở khu vực công cộng (bao gồm cả các đoanh nghiệp Nhà nước, các đơn vi sit nghiệp và các cá nhân thụ hưởng ngân sách Nhà nước) đều được sự kiểm tra ' kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước. Trong quan hệ này, chức năng xác minh của - kiểm toán được thực hiện tương tự như nhau. Tuy nhiên, chức năng “bầy tỏ kiến” ._ lại rất khác nhau. - Ở mức độ cao của chức năng này là một sự phán quyết.
Có thể tìm thấy biểu hiện này rõ nét nhất ở Toà thẩm kế của Cộng hoà Pháp và các nước Tay Âu. Ở đây, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có quyên kiểm tra các tài liệu và tình hình quản lý của các tổ chức sử đụng ngân sách Nhà nước để xác mỉnh tính chính xác và hợp lệ của tài liệu thu chỉ và quản lý ngân sách. Đồng thời các cơ quan này cũng có quyển xét xử như toà án bằng các phán quyết của mình. Để bảo đâm cho các cơ quan này thực hiện các chức năng của mình, kiểm toán viên cao cấp được pháp luật của các nước thừa nhận những quyền đặc biệt.
Khác với các nước Tây Âu, ở các nước Bắc Mỹ và nhiều nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đặc biệt ở Australia và Singgapore) chức năng “bầy tỏ ý kiến” lại thực hiện bằng phương thức “tư vấn”. Hoạt động tư vấn này trước hết và chủ yếu trong lĩnh vực nguồn thu và sử dụng công quỹ. Ngày nay, khi kiểm toán đã được phát triển, chức năng tư vấn được đưa vào trong báo cáo kiểm toán; chức năng này ngoài phần xác nhận hoặc chỉ ra sai phạm trong quản lý kinh tế, trong điều hành và quản lý tài chính - ngân sách, còn đưa ra những khuyến nghị, biện pháp để sửa chữa khắc phục những sai sót vi phạm đó, ngăn chặn chúng lặp lại trong tương lai. Đối với Việt Nam, thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước sẽ cung cấp thông tin đầy đủ có giá trị và tin cậy về kết qủa thu chi ngân sách nhà nước, chấp hành kế hoạch ngân sách nhà nước, tình hình quản lý kinh tế tài chính ở các khu vực của nhà nước.
Qua đó, Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước cũng như quyết định phân bổ ngân sách nhà nước hàng 13 ds 1 năm; đồng thời cũng có những kiến nghị giúp cho Chính phủ hoạch định chính sách và để ra các biện pháp tăng cường quản lý vĩ mô nên kinh tế. Nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN 4.1 Nhiệm vụ: - Kiểm tra, xác nhận và đánh giá tình hình tài chính: đây là nhu cầu tất. yếu của quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước và chỉ có dựa vào hoạt động kiểm tra từ bên ngoài của KTNN mới phản ánh đây đủ tình hình tài chính từ đó -_ làm cơ sở cho sự điều hành và quản lý của cơ quan, don vi. Việc đánh giá thực trạng tình hình tài chính phải được dựa trên cơ sở của việc kiểm tra tính trung thực, độ tỉn cậy của các thông tin tài liệu kế toán, báo cáo quyết toán của đơn vị được kiểm toán, Nhiệm vụ này của Kiểm toán Nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý của Nhà nước và đơn vị được kiểm toán.
Kết quả của việc đánh giá thực trạng tình hình tài chính sẽ giúp Nhà nước, _ các cơ quan quản lý và đơn vị nắm được tình hình quản lý và sử dụng tài chính và hoạt động của đơn vị. Từ đó có biện pháp khắc phục và phục vụ có hiệu quả trong quản lý vi mô và vĩ mô nên kinh tế, ~ Xác định tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán: Quá trình thực hiện việc kiểm tra, thẩm định thông tin kinh tế tài chính, đồng thời là quá trình tiến hành xác định tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của tài liệu kế toán, báo cáo quyết toán và các tài liệu được xác định trong mỗi cuộc kiểm toán. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý thu, chỉ và sử dụng ngân sách Nhà nước của các cơ quan đơn vị đều phải thực hiện theo đúng các chế độ chính sách do Nhà nước quy định thống nhất và chặt chẽ. Thực hiện nhiệm vụ nhằm xem xét về số liệu, về tính chất và chỉ tiêu tài chính - kinh tế có vi phạm quy định của Nhà nước hay không.
- Đánh giá việc chấp hành chế độ chính sách và pháp luật do Nhà nước quy định: Việc chấp hành và tuân thủ các chế độ chính sách đo Nhà nước quy định là trách nhiệm của các chủ thể thuộc đối tượng được kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Kiểm toán Nhà nước tham gia kiểm tra kiểm soát quá trình này là xem xết việc tuân thủ chấp hành những cuy định của Nhà nước ở đơn vị được 14 ah w J kiểm toán bảo đảm chế độ chính sách và pháp luật của Nhà nược được tôn trọng thực hiện. - Thực hiện việc tư vấn cho các cơ quan chức năng của nhà nước và các đơn vị được kiểm toán: Thông qua kết quả kiểm toán Kiểm toán Nhà nước sẽ cung cấp.