CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TÀI NGUYÊN ĐỊA HÌNH 1. Các khái niệm Tài nguyên Theo định nghĩa của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam “Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người” và người ta phân loại tài nguyên như sau: - Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội. - Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo.
- Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khi hậu cảnh quan, di sản văn hóa kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin. Địa mạo học Theo định nghĩa địa mạo học trước đây: “địa mạo học là một bộ môn khoa học nghiên cứu địa hình trái đất về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển”, còn khái niệm địa mạo hiện đại thì phát biểu như sau: “địa mạo học là lĩnh vực nghiên cứu liên ngành và hệ thống về địa hình và các quá trình hình thành cũng như làm thay đổi chúng”. Có thể nói rằng toàn bộ hoạt động của con người đều liên quan chặt chẽ với địa hình của nơi cư trú. Chính vì vậy, địa hình vừa là nơi để con người cư trú, đồng thời cũng là một trong những tư liệu sản xuất quan trọng nhất của con người.
Do đó, tầm quan trọng và ảnh hưởng của địa hình đến các yếu tố như: khí hậu, thủy văm thực vật và sự phát triển văn hóa của con người,… đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Ngược lại, với hoạt động của mình con người cũng tác động đến địa hình làm cho cả địa hình và các quá trình thành tạo của nó (quá trình địa mạo) bị biến đổi [32]. Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa mạo là địa hình và thành phần vật chất tạo nên chúng. Do đó, địa hình được xem là có cấu trúc khối chứ không phải là mặt phẳng.
Địa hình là một trong những hợp phần quan trọng nhất của môi trường địa lý và được nghiên cứu trong mối tác động tương hỗ lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau của các yếu tố như nước trên mặt đất, nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và thế giới động vật (trong đó có cả con người). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài nguyên địa mạo Theo Panizza, địa hình và các quá trình địa mạo được đánh giá là tài nguyên thông qua 4 chỉ tiêu: khoa học, văn hóa, kinh tế-xã hội và phong cảnh. Trong đó, chỉ tiêu khoa học phải đảm bảo được 4 đặc trưng là: 1- là mô hình tiến hóa địa mạo; 2- là một thực thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục và đạo tào; 3- là một ví dụ về cổ địa mạo và 4- là trụ cột của hệ sinh thái [32]. Theo Panizza, để ứng dụng tốt cho các vấn đề môi trường thì địa mạo được chia thành 2 hướng: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo [32].
“Tài nguyên địa mạo bao gồm các nguyên liệu thô (liên quan tới các quá trình địa mạo) và địa hình – cả hai loại có ích cho con người lẫn loại có thể trở nên có ích phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội và công nghệ”. Chẳng hạn, một bãi biển có thể thu được giá trị và được xem là tài nguyên địa mạo khi được sử dụng cho các khu nghỉ dưỡng ven biển [32]. Cũng theo tác giả trên, địa hình và các quá trình địa mạo đều được coi là tài sản nếu chúng có giá trị. Từ những giá trị này, nếu được sử dụng thì chúng sẽ trở thành tài nguyên thiên nhiên.
Các thuộc tính mà có thể cho giá trị đối với tài sản, rồi trở thành tài nguyên địa mạo bao gồm: khoa học, văn hóa, kinh tế - xã hội và phong cảnh. Mối quan hệ giữa nguyên liệu, tài sản và tài nguyên địa mạo [32] Di chỉ địa mạo Theo Gay, 2004 đa dạng địa học là “sự đa dạng tự nhiên về các đặc điểm địa chất (đá, khoáng vật và hóa thạch), địa mạo (địa hình và các quá trình,…) và thổ nhưỡng. Nó bao gồm các tập hợp, các mối quan hệ, các tính chất, những luận giải và các hệ thống của chúng”. Đa dạng địa học ra đời từ đâu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, phục vụ cho việc công nhận các di sản học (Geohertage) trên cơ sở công ước về những điều tốt đẹp của trái đất (Declaration of the Earth’s Rights) năm 1994, thành lập mạng lưới công viên địa học Châu Âu (Europea Geoparks Network) năm 2000 và sang kiến về công viên địa học (Initiative on Geoparks) được UNESCO thông qua vào năm 2003 (Reynard và đồng nghiệp 2007) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cả địa mạo và đa dạng địa học đều có chung đối tượng nghiên cứu đó chính là địa hình và các quá trình thành tạo ra chúng.
Vậy địa mạo trong nghiên cứu đa dạng địa học là nghiên cứu về hình thái, trắc lượng hình thái của các dạng địa hình, các quá trình động lực trong quá khứ và hiện tại hình thành các di chỉ địa học hay di chỉ địa mạo. Di chỉ địa mạo nằm trong hệ thống các di chỉ địa học (geosites) được định nghĩa là “những vị trí của địa quyển có tầm quan trọng để nhận thức về lịch sử Trái đất. Chúng được phân định về không gian và có sự khác biệt rõ rệt với xung quanh” (theo Bách khoa thư địa mạo). Di chỉ địa mạo có vị trí tầm quan trọng trong việc tìm hiểu lịch sử phát triển của một lãnh thổ nào đó ở quy mô thời gian và không gian khác nhau, hay có giá trị thẩm mỹ trong phát triển du lịch.
Và trong nghiên cứu mối quan hệ địa hình – du lịch, đến nay, đã được cụ thể hóa là nghiên cứu di chỉ địa học (geosite) và các di chỉ địa mạo (geomorphosite). Những nghiên cứu đầu tiên về di chỉ địa mạo đã được hướng dẫn ở Italy, Thụy Sĩ, Vương Quốc Anh và Tây Ban Nha vào đầu thập kỷ 1990, sau này trở thành một lĩnh vực được quan tâm đối với các nhà địa mạo, bao gồm cả ở Rumani. Những nghiên cứu này đã được hướng dẫn bởi một danh sách khá dài của các nhà địa lý và địa chất, như Reynard (2002, 2004, 2008, 2009), Pralong (2004), Panizza (2001), Panizza và Piacente (2003), Poli (1999), Brancucci và Burlando (2001), Serrano (2002), Bertacchini (1996), Piacente (2001), Brancucci (2003), De Waele và đồng nghiệp (2004), Piccini và đồng nghiệp (2005), Hoblea (2009), Dowling và Newsome (2006, 2008) – những người đã xác định các quan niệm, phát triển được các phương pháp đánh giá. Và năm 2001 – Hội địa mạo Quốc tế thành lập nhóm nghiên cứu di chỉ địa mạo do Reynard đứng đầu.
Panizza cũng đã đưa ra định nghĩa về di chỉ địa mạo như sau: “Di chỉ địa mạo bao gồm các thành tạo địa hình và quá trình phát sinh sự đa dạng địa hình nào đó có như đặc điểm tạo nên một điểm đến du lịch. Di chỉ địa mạo mang các giá trị khoa học, văn hóa/lịch sử, thẩm mỹ và/hoặc khinh tế do nhân thức hoặc khai thác của con người” [32]. Các nhà khoa học đã phân chia di chỉ địa mạo thành 2 loại: di chỉ địa mạo tích cực cho phép nhìn thấy được các quá trình địa mạo đang hoạt động (thung lũng sông, bãi biển,…) và các di chỉ địa mạo thụ động biểu lộ các quá trình trước đây được xem là di sản đặc biệt về ký ức của Trái đất. Chúng là công cụ đắc lực phục vụ cho phát triển du lịch.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa hình Theo Panizza các tiêu chí có thể cho giá trị đối với địa hình để trở thành tài nguyên địa mạo được liệt kê dưới đây [32]. - Giá trị khoa học - Giá trị văn hóa - Giá trị kinh tế - xã hội - Giá trị về phong cảnh/cảnh vật a) Giá trị khoa học Trên quan điểm khoa học và trong lĩnh vực địa mạo, tầm quan trọng về giá trị của tài nguyên địa mạo tự nhiên có thể đánh giá theo 4 đặc trưng (Panizza và Piacente, 1993): 1) Là một mô hình tiến hóa địa mạo, chẳng hạn phễu karst hoặc một cột đất. 2) Là một vật thể được sử dụng cho các mục đích giáo dục, chẳng hạn một khúc uốn của dòng sông 3) Là một ví dụ cổ địa mạo, chẳng hạn đồi băng tích hoặc thềm sông tuổi Pleistocen 4) Địa hình có thể được xem là tài nguyên địa mạo bởi các khía cạnh khoa học của nó, cũng như khi nó là trụ cột của hệ sinh thái, có thể bởi vì nó là một môi trường sống dành riêng cho những loài động vật hay thực vật đặc biêt, mà chúng là những yếu tố không thể thiếu được trong một hệ sinh thái: Một vài vùng đất ngập nước hoặc các tích tụ mảnh vụn là những ví dụ rõ rệt.
Tuy nhiên, trong trường hợp này, các môn học khác, như Động vật học hay Thực vật học, hơn là Địa mạo học, sẽ chỉ ra sự đóng góp của tài sản địa mạo. Trong những trường hợp khác, việc xác định giá trị khoa học của những đặc điểm hình thái đặc biệt, như hang động hoặc mái đá mà có lúc là vị trí cư ngụ của người cổ đại, có thể lại nằm trong ranh giới của Khảo cổ học. Mỗi đặc trưng trên đây có thể thừa nhận giá trị cao hay thấp nhờ mức độ hiếm có của nó, nghĩa là tầm quan trọng của nó về mặt không gian; do đó, mức độ khác nhau về tầm quan trọng có thể được quy cho một trong 4 loại đặc trưng đã xác nhận ở trên: - Địa phương - Khu vực 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Siêu khu vực - Rộng rãi trên thế giới. b) Giá trị văn hóa Trên quan điểm văn hóa, tài nguyên địa mạo có thể thuộc về thế giới của nghệ thuật hoặc thuộc truyền thống văn hóa, ví dụ như: các cảnh quan đã được vẽ bởi danh họa Venetian vào thể kỷ XVI, hoặc núi Olimpo, nơi ở của các vị thần.
Một tài nguyên địa mạo cũng có thể thu được giá trị kinh tế - xã hội, nếu có thể được sử dụng cho mục đích du lịch hoặc thể thao, ví dụ như thung lũng Alpo, một lối mòn cho đi bộ và tham quan tự nhiên, hoặc một bức tường đá được trang bị cho len núi.