phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chƣơng. Khái quát chung về định giá tài sản trong tố tụng dân sự và pháp luật Việt Nam về định giá tài sản trong tố tụng dân sự Chương 2.Thực tiễn thực hiện định giá tài sản trong giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và những giải pháp nâng cao hiệu quả 5 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN 1. Khái niệm định giá tài sản trong tố tụng dân sự Trong nền kinh tế thị trƣờng, giá cả đƣợc hình thành và vận động dƣới sự chi phối của các quy luật khách quan của kinh tế thị trƣờng, nhƣng cũng chính sự vận động tự phát của giá cả thị trƣờng có thể gây tác động tiêu cực tới quá trình sản xuất, tiêu dùng. Xuất phát từ các thuộc tính riêng có của pháp luật (tính quy phạm phổ biến; tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính đƣợc bảo đảm bằng nhà nƣớc) mà Nhà nƣớc đã sử dụng pháp luật làm công cụ điều chỉnh các hoạt động định giá tài sản.
Điều chỉnh các hoạt động định giá tài sản, pháp luật cần quy định cụ thể về mục đích, nguyên tắc, phƣơng pháp định giá các chủ thể thực hiện và trình tự, thủ tục thực hiện, giá trị pháp lý của kết quả đƣợc đƣa ra. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ tài sản, của tổ chức, cá nhân kinh doanh, của ngƣời tiêu dùng, bảo đảm trật tự xã hội và lợi ích công cộng, các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động định giá luôn đƣợc pháp luật điều chỉnh. Theo từ điển tiếng Việt, “Định giá” đƣợc hiểu là quy định giá cả hàng hóa1 [14, tr. Từ điển luật học đƣa ra khái niệm về định giá tài sản là: Việc ấn định, quyết định cuối cùng về giá cả của một sản phảm, một tài sản 2 [15, tr.
Theo nhƣ nội dung trên thì chúng ta thấy đƣợc cơ bản về nội dung, bản chất của việc định giá tài sản là ấn định, quyết định về giá cả của tài sản 1 Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học (1994), từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 314. 2 Trƣờng đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Luật Dân sự, Hôn nhân gia đình, Luật tố tụng dân sự), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 265. 6 và đây là quyết định cuối cùng và có giá trị lâu dài đối với tài sản đó. Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Định giá tài sản là “Việc tư vấn, định các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch mua, bán tài sản, hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường”.
Theo Luật giá năm 2022, định giá đƣợc định nghĩa là quá trình cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện xác định giá của hàng hóa, dịch vụ (Khoản 5, Điều 4 Luật giá năm 2022). Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ trƣởng các bộ liên quan trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn. Giá những hàng hóa, dịch vụ do Nhà nƣớc định giá cũng phải nhất quán theo nguyên tắc giá thị trƣờng có sự kiểm soát của Nhà nƣớc. Khoản 4 Điều 4 Luật giá số 16/2023/QH15 ngày 19/6/2022 quy định: “Giá thị trƣờng là giá hàng hóa, dịch vụ đƣợc hình thành trên cơ sở cung, cầu và do các yếu tố thị trƣờng quyết định trong một khoảng thời gian, không gian nhất định”.
Định giá bất kỳ một tài sản nào thì ngƣời định giá cũng cần biết rõ tài sản đó là gì, đặc điểm về mặt kinh tế - kỹ thuật cũng nhƣ về mặt pháp lý của tài sản. Theo đó, tài sản là của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu3 [16,tr884]. Nhìn tổng quát, tài sản đƣợc hiểu là tất cả các nguồn lực hữu hình hoặc vô hình, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của một chủ thể nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho các chủ thể đó. Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Tài sản kể trên đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Vật: gồm cả vật đang có và vật sẽ đƣợc hình thành trong tƣơng lai (ví dụ công trình đang đƣợc xây dựng, tàu thuyền đang đóng hoặc sẽ đóng, hoa quả sẽ có,…); tiền, giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, công trái, séc, giấy ủy nhiệm chi, tín phiếu, sổ tiết kiệm,…); các quyền tài sản (quyền sử dụng đất, Từ điển tiếng việt, NXB Đà nẵng, 2003. 3 7 quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ,…). Phân loại tài sản có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động định giá, thẩm định giá phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại tài sản nhất định. Theo tính chất của tài sản, tài sản đƣợc phân thành: bất động sản và động sản.
+ Bất động sản: Bất động sản là tài sản có tính bất động, tính không đồng nhất, tính khan hiếm, tính bền vững. Bất động sản là các tài sản bao gồm: - Đất đai - Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; - Các tài sản khác gắn liền với đất đai; - Các tài sản khác do pháp luật quy định. + Động sản: động sản là tài sản có tính di dời, tính đồng nhất, phổ biến, kém bền vững. Nói chung, động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Động sản là những tài sản di dời đƣợc (nhƣ xe ô tô, tàu, thuyền, hoa lợi,. Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động định giá tài sản. Bất động sản có tính bất động, tính không đồng nhất, tính khan hiếm, tính bền vững, còn động sản thì có tính di dời, tính đồng nhất, phổ biến, kém bền vững,.Những đặc điểm, tính chất của động sản hoặc bất động sản ảnh hƣởng rất nhiều đến hoạt động định giá tài sản là động sản hay bất động sản. Định giá quyền tài sản là hoạt động phức tạp, cần dựa trên những cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học nhất định.
Khi định giá quyền sử dụng đất cần dựa trên các quy định của Luật Đất đai và các quy định khác liên quan. Định giá quyền sở hữu trí tuệ cần dựa trên các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ Luật dân sự… 8 Định giá tài sản là biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự, là việc xác định mức giá cụ thể cho từng loại tài sản phù hợp với thị trƣờng tại một địa điểm, thời điểm nhất định. Kết quả định giá tài sản là nguồn chứng cứ đƣợc quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Biện pháp thu thập chứng cứ định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ đƣợc quy định trong hệ thống văn bản pháp luật tố tụng dân sự.
Trong thực tế giải quyết các vụ án việc áp dụng biện pháp này đã mang lại hiệu quả nhất định và cũng đã có nhiều bài viết, nghiên cứu về biện pháp này nhƣng có rất ít tài liệu đƣa ra khái niệm đầy đủ về định giá tài sản trong tố tụng dân sự. Theo giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội do tác giả Nguyễn Công Bình (chủ biên) có nêu khái niệm: “Định giá tài sản là việc Tòa án yêu cầu các cơ quan chuyên môn hoặc tổ chức thẩm định giá xác định giá trị của vụ việc dân sự” 4 [19, tr. Nhƣ vậy, theo khái niệm này thì định giá tài sản, bao gồm việc Tòa án yêu cầu cơ quan chuyên môn, cụ thể là thông qua việc thành lập Hội đồng định giá hoặc yêu cầu tổ chức thẩm định giá xác định giá trị tài sản. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rõ khái niệm này chƣa thể hiện rõ quyền tự định đoạt của đƣơng sự trong việc yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài sản hoặc quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để xác định giá tài sản.
Trong giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, tác giả Bùi Thị Thanh Hằng (chủ biên, 2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội có nêu khái niệm về định giá tài sản và thẩm định giá tài sản là việc xác định giá trị tài sản tranh chấp nhằm từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự5. Khái niệm thể hiện đƣợc nội dung 4 Nguyễn Công Bình (chủ biên, 2011), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr 123. 5 Bùi Thị Thanh Hằng (chủ biên, 2014), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr 170. 9 xác định giá của tài sản tranh chấp để xác định quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự.
Đây là một khái niệm đƣợc tiếp cận theo nghĩa rộng. Ngoài ra trong luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Thành cũng đƣa ra khái niệm về định giá tài sản nhƣ sau: “Định giá tài sản đó là biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án theo yêu cầu của đương sự hoặc trong trường hợp pháp luật TTDS quy định nhằm xác định giá trị của tài sản trong vụ việc dân sự, lấy đó làm căn cứ để giải quyết quan hệ nội dung có tranh chấp”6 [20, tr. Khái niệm này nêu khá đầy đủ về đặc điểm và nội dung của hoạt động định giá tài sản trong TTDS, đó là biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án trên cơ sở yêu cầu đƣơng sự hoặc Tòa án áp dụng trong trƣờng hợp luật định. Mặc dù không đƣa ra trong phần khái niệm cụ thể nhƣng trong luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Bùi Thị Huyền cũng nêu quan điểm khái quát về nội dung của định giá tài sản “được tiến hành nhằm xác định giá trị tài sản để giải quyết vụ kiện dân sự, trong trường hợp đương sự không thỏa thuận được giá trị tài sản tranh chấp hoặc do tính năng kỹ thuật phức tạp của tài sản phải định giá tài sản mới giải quyết đúng vụ kiện dân sự” 7 [21, tr.