Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH 1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH 1.2 Phân loại các hình thức định đoạt phần vốn góp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các điều kiện đối với việc định đoạt phần vốn góp 1.4 Nội dung và hiệu lực của định đoạt phần vốn góp 1.5 Các dạng tranh chấp Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH.1 Cấu trúc và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH 2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH 2.3 Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong quy định của pháp luật Việt Nam về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH Chương 3. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH 3.1 Nhu cầu hoàn thiện 3.2 Phương hướng hoàn thiện 3.3 Những kiến nghị chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN TRONG CÔNG TY TNHH 1.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của phần vốn góp trong công ty TNHH 1.1 Khái niệm về phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH Công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội và lịch sử nhất định.
Lịch sử phát triển của công ty gắn liền với lịch sử phát triển của hoạt động thương mại và sự phát triển của lực lượng sản xuất với những tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sự ra đời của công ty là kết quả của quá trình phát triển kinh tế hàng hoá. Theo quan niệm chung có thể hiểu: Công ty kinh doanh là một thực thể kinh doanh được tạo lập trên cơ sở vốn góp của một hay nhiều người. Thông thường Công ty được chia làm 2 loại chính là Công ty đối nhân và Công ty đối vốn.
Loại thứ nhất, Công ty đối nhân là những công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thàn viên tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu. Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty [25, tr. Còn đối với công ty hợp vốn đơn giản là loại công ty có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn đã góp vào công ty (thành viên góp vốn).
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại thứ hai, Công ty đối vốn là loại công ty mà những thành viên tham gia phải góp một phần vốn xác định tạo nên vốn, tài sản riêng của Công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ở Công ty đối vốn yếu tố nhân thân của người góp vốn thường ít được quan tâm mà vấn đề vốn góp được đề cao. Các thành viên Công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của Công ty nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn mà họ góp vào công ty. Các công ty đối vốn thông thường có công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp vốn cổ phần.
Khác với các loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm của hoạt động lập pháp. Các loại công ty khác do các thương gia lập ra, pháp luât thừa nhận và hoàn thiện nó. Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại công ty trung gian giữa Công ty đối nhân và Công ty đối vốn, nó vừa có tính chất của một Công ty đối nhân là các thành viên quen biết nhau; việc thành lập, quản lý công ty đơn giản hơn công ty cổ phần. Nó có tính chất của công ty đối vốn vì các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp vào công ty.
Vì những lý do đó công ty trách nhiệm hữu hạn có những đặc trưng cơ bản sau: - Công ty trách nhiện hữu hạn là một pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty. - Thành viên công ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau. - Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, công ty phải bảo toàn vốn ban đầu. - Phần vốn góp không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu). Có thể nói công ty TNHH là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ. Chính sự phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nên mô hình công ty TNHH rất phổ biến ở nước ta. Khi đưa ra khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” thì luật pháp cũng phải đưa ra một khái niệm khác, vừa để làm nền tảng vừa để làm cho khái niệm mới hợp lý.
Vì vậy trên cơ sở để phù hợp với khái niệm “trách nhiệm hữu hạn” luật đã tách biệt người bỏ vốn ra khỏi cái cơ ngơi họ thành lập. Cơ ngơi người bỏ vốn ra để thành lập gọi là “pháp nhân”. “Pháp nhân được hiểu là một tổ chức thống nhất, độc lập có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập” [26, tr. Pháp nhân là chủ thể khi tham gia các quan hệ trong xã hội.
Vậy nếu pháp nhân gây nợ thì nó phải lấy hết tiền của nó ra mà trả, còn chủ bỏ vốn ra chỉ mất số tiền mà họ đã góp vào để thành lập ra pháp nhân. Từ sự phân tích ở trên ta thấy được rằng có sự tách bạch giữa tài sản của người góp vốn và tài sản của công ty TNHH. Tài sản của người góp vốn sau khi góp vào để thành lập công ty thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của công ty TNHH chứ không còn thuộc quyền sở hữu của người góp vốn. Những người đã góp vốn thành lập công ty trở thành đồng chủ sở hữu công ty.
Mỗi người trong số họ chiếm một phần trong tổng số vốn góp của công ty và được gọi là phần vốn góp của người góp vốn. Vậy phần vốn góp là gì? Theo khoản 5 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”. Qua các phân tích ở trên có thể hiểu theo nghĩa chung nhất, phần vốn góp là danh từ dùng cho công ty TNHH, nói về giá trị về tài sản, dưới hình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức tiền mặt hay tài sản vô hình hoặc hữu hình, mà người góp vốn vào công ty TNHH để có những quyền và nghĩa vụ khi công ty được thành lập, hoạt động và giải thể.2 Bản chất pháp lý của phần vốn góp. Công ty thường được xem xét trên hai phương diện: kinh tế và pháp lý.
Trên phương diện kinh tế, công ty được xem là một doanh nghiệp hay một thực thể kinh doanh. Và trên phương diện pháp lý, công ty được xem là hành vi pháp lý hay hành vi thương mại. Do đó phần vốn góp cũng được hiểu theo nghĩa kinh tế và nghĩa pháp lý, có nghĩa là cần xem xét khái niệm phần vốn góp từ phương diện kinh tế và từ phương diện pháp lý. Nếu như xét từ phương diện kinh tế, phần vốn góp là sản nghiệp của người đã góp vốn vào công ty.
Phần vốn góp không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình, cũng không phải được hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tụê mà phần vốn góp là sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty. Khi người góp vốn góp vốn vào công ty thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty TNHH đổi lại người góp vốn trở thành trái quyền đối với phần vốn góp. Tuy người góp vốn là trái quyền đối với phần vốn góp nhưng do công ty TNHH là loại hình công ty vừa mang tính đối nhân vừa mang tính đối vốn nên việc thực hiện các quyền năng của trái quyền có một số hạn chế nhất định. Xét về phương diện pháp lý thì phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà người góp vốn đã góp vào công ty.
Trong công ty thường có nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn để thành lập công ty. Nhưng không phải lúc nào các thành viên góp vốn cũng góp một số vốn như nhau. Khi góp vốn vào công ty thì tài sản góp vốn trở thành tài sản của công ty. Các thành viên góp vốn là chủ sở hữu công ty.
Lúc đó vấn đề phát sinh nếu không có sự phân biệt giữa về số vốn góp vào công ty thì sẽ không có sự khác nhau về quyền và nghĩa vụ của các 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành viên góp vốn. Vì vậy khái niệm phần vốn góp là để phân biệt được tỷ lệ góp vốn vào công ty của các thành viên góp vốn. Phần vốn góp của các thành viên góp vốn tỷ lệ thuận với số vốn mà họ đã góp vào công ty. Dựa trên phần vốn góp mà ta cũng có thể xác định được quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên góp vốn.
Trong công ty có nhiều thành viên nên việc điều hành, quản lý, quyết định những vấn đề cũng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên trong công ty.2 Phân loại các hình thức định đoạt phần vốn góp 1.1 Chuyển nhƣợng.