phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 02 chương như sau: Chƣơng 1. Sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa xét xử vụ án hình sự. Địa vị pháp lý của Điều tra viên khi tham gia phiên toà. 5 CHƢƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT TRIỆU TẬP ĐIỀU TRA VIÊN ĐẾN PHIÊN TOÀ XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ hương này của uận văn được chia thành ba phần để làm rõ các nội dung sau: hứ nhất, Quy định của pháp uật về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Phần này làm rõ mục đích, ý nghĩa của quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa; nội dung quy định của ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa xét xử vụ án hình sự. hứ hai, Phần này phân tích thực tiễn các trường hợp cụ thể triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa; sự cần thiết triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa; quy định xử lý đối với trường hợp triệu tập nhưng Điều tra viên t chối không tham dự phiên tòa; làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng quy định trên của uật tố tụng hình sự. hứ ba, T những bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp uật và thực tiễn xét xử; tác giả đưa ra kiến nghị đề xuất các trường hợp cụ thể xác định là cần thiết triệu tập Điều tra viên tham dự tại phiên tòa để ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện và kiến nghị giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quy định về triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa. Vấn đề nhận thức và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa 1.
Mục đích, ý nghĩa của quy định về triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa Quy định pháp uật tố tụng hình sự về sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa nhằm hướng đến các mục đích sau: - hứ nhất, thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách t pháp. ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa có tác động và chịu ảnh hưởng t hầu hết các nguyên tắc cốt lõi, cơ bản nhất của tố tụng hình sự, trong đó đặc biệt nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử - một nguyên tắc mới được uật hóa. - hứ hai, tháo gỡ, kh c phục khó khăn, v ng m c mà thực ti n tố tụng hình sự đang đặt ra. 6 Khó khăn, vướng mắc khi thi hành pháp uật tố tụng hình sự theo ộ uật tố tụng hình sự năm 2003 đó là, trong nhiều vụ án hình sự, tại phiên tòa xét xử, các bị cáo khai trong quá trình điều tra bị Điều tra viên bức cung, dùng nhục hình hoặc thực hiện các hành vi tố tụng khác trái pháp uật (như dụ cung, mớm cung, ép cung…), t đó cho rằng việc buộc tội dựa trên các chứng cứ mà ơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được là không đúng.
Trong những trường hợp này, tuy bị cáo chỉ có ời khai, không cung cấp được tài iệu gì khác, nhưng vì Điều tra viên không có mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất, làm rõ. Vì thế, để bảo đảm thận trọng, khách quan, Tòa án thường quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm rõ các nội dung này. Kết quả điều tra ại cho thấy, hầu hết ời khai của bị cáo đều không có căn cứ, không được chấp nhận. Điều này làm cho quá trình tố tụng vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến chất ượng giải quyết vụ án.
ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa, khi gặp trường hợp tương tự, Hội đồng xét xử hoàn toàn có thể tạm d ng phiên tòa để triệu tập Điều tra viên thụ l vụ án để m rõ nội dung n y. - Thứ ba, bảo đảm phán quyết của Tòa án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Yêu cầu, nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là bảo đảm việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ng a, ngăn chặn tội phạm, không để ọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ ợi ích của Nhà nước, quyền và ợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người thức tuân theo pháp uật, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây cũng chính là yêu cầu, nhiệm vụ của việc xét xử vụ án hình sự.
Do đó, trong quá trình xét xử, ngoài việc thể hiện rõ các nội dung như trước đây, Tòa án cần phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra trước khi đưa ra bản án. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án là việc làm hết sức cần thiết. - hứ t , nhằm xác định rõ vị trí, vai trò của Tòa trong bộ máy nhà n c cũng nh trong quy trình tố tụng hình sự. Đẩy mạnh tiến trình cải cách tư pháp, bảo đảm Tòa án nhân dân thực hiện tốt chức năng là thực hiện quyền tư pháp và nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo đúng quy định Hiến pháp, ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố 7 tụng khác đến phiên tòa càng thể hiện rõ vai trò làm “trọng tài”, là “c n cân công lý" giữa bên buộc tội và bên gỡ tội; là chủ thể duy trì sự bình đẳng giữa các bên trong tố tụng hình sự, qua đó bảo đảm tốt nhất các quyền và ợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự.
Về ý nghĩa: Việc triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến h nh tố tụng đã thụ , giải quyết vụ án đến phiên t a để tr nh b y các vấn đề liên quan đến vụ án có ý nghĩa rất ớn trong hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần m rõ những chứng cứ, những vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa, bảo đảm các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn. Qua đó, giúp cho Hội đồng x t xử xem x t, đánh giá to n diện, nhận định đúng đắn bản chất của vụ án, t đó đưa ra phán quyết ph hợp với sự thật khách quan của vụ án, có sức thuyết phục v đúng quy định của pháp uật. Có như vậy, Tòa án mới thực hiện được chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về sự cần thiết triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa Điều 296 ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “ rong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, ng i có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và nh ng ng i khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ n”.
Điều 317 ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của ng i tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, ng i khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ng i tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ nh ng quyết định, hành vi tố tụng trong giai đo n điều tra, truy tố, xét xử”. Tuy nhiên, ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định rõ “khi xét thấy cần thiết” là như thế nào, đồng thời kể t khi được ban hành và có hiệu ực thi hành, đến nay chưa có văn bản nào hướng dẫn thi hành Điều 296 ộ uật tố tụng hình sự năm 2015 và thế nào là “khi xét thấy cần thiết”. Quy định “khi xét thấy cần thiết” được hiểu là trong quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án; hay do uật sư, người tham gia tố tụng yêu cầu và Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của họ là có căn cứ (cần thiết) mới triệu tập? Ngoài ra, trường hợp nào được xem là “cần thiết” 8 thì uật chưa quy định và cũng chưa có văn bản hướng dẫn. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Tòa án trong quá trình xét xử, cũng như dễ dẫn đến sự bất nhất giữa các Tòa án khác nhau trong việc giải quyết yêu cầu của uật sư và những người tham gia tố tụng khác về việc triệu tập Điều tra viên đã thụ lý, giải quyết vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.
Chính vì chưa có quy định rõ như thế nào là “khi xét thấy cần thiết” nên cũng dễ dẫn đến sự đánh giá mang tính chủ quan trong việc áp dụng của Tòa án. Thậm chí cùng tính chất vụ việc, có Tòa án chấp nhận yêu cầu, nhưng có thể Tòa án khác t chối yêu cầu của uật sư và những người tham gia tố tụng khác về việc triệu tập Điều tra viên đã thụ lý, giải quyết vụ án đến phiên tòa. Ngoài ra, quy định trên còn dễ dẫn đến sự chủ quan trong yêu cầu của uật sư và những người tham gia tố tụng khác, có trường hợp không cần thiết và không đúng quy định, nhưng uật sư và những người tham gia tố tụng khác vẫn cho rằng cần thiết phải triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa. Mặt khác, cũng theo quy định của Điều uật này thì khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đã thụ lý, giải quyết vụ án đến phiên tòa.