Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án 1. Khái niệm hồ sơ vụ án hình sự, điều tra bổ sung vụ án hình sự - Hồ sơ vụ án hình sự: Trong Bộ luật TTHS không có quy định thế nào là HSVAHS. Tại khoản 10 Điều 2 Luật lưu trữ năm 2013, hồ sơ được định nghĩa như sau: “Hồ sơ là tập hợp toàn bộ (hoặc một) văn bản, tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có cùng một (hoặc một số) đặc điểm chung về thể loại hoặc tác giả hình thành tài liệu trong quá trình giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân.” Hay nói cách khác, hồ sơ là các loại giấy tờ có liên quan đến một người, giải quyết một vụ việc, một vấn đề nào đó.
qua đó nói lên các kết quả đạt được hay cung cấp bằng chứng về các hoạt động được thực hiện, được tổng hợp lại một cách có hệ thống. Theo Từ điển tiếng Việt thì có thể hiểu “hồ sơ” là: “Tài liệu tổng hợp có liên quan với nhau về một người, một sự việc hay một vấn đề”1. Đây là khái niệm ở góc độ chung và tổng quát nhất về hồ sơ, với nghĩa là những tài tiệu tổng hợp có tính liên quan mật thiết với nhau, trong đó được sắp xếp theo tiêu chí chung là về một người hoặc một sự việc, bao gồm cả một vấn đề nào đó. Từ điển Luật học cũng đưa ra khái niệm “hồ sơ vụ án” là: “Toàn bộ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án, được sắp xếp một cách có trật tự, có hệ thống theo quy định của Cơ quan chủ quản hoặc theo chủ ý của người quản lý hồ sơ”2.
Đây là từ điển chuyên ngành luật nên khái niệm mang tính chất pháp lý và có những điểm khác so với khái niệm hồ sơ nói chung nêu trên. Ưu điểm của khái niệm này là đã nêu được một số đặc điểm về hồ sơ vụ án, đó là tổng hợp các tài liệu, chứng 1 Viện Ngôn ngữ học (2006), tlđd (1), tr. 2 Từ điển Luật học; Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006, Tổng Chủ biên TS. Nguyễn Đình Lộc luan an 7 cứ có liên quan đến vụ án, và được sắp xếp theo tính chất vụ việc hoặc theo ý chí chủ quan của cơ quan có thẩm quyền thì khái niệm này chỉ nói chung đến các loại hồ sơ pháp lý như hồ sơ dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa thể hiện được những đặc điểm riêng biệt của HSVAHS. Lý do chúng ta tiếp cận khái niệm “hồ sơ” và “hồ sơ vụ án” là để nhìn nhận và hoàn thiện khái niệm HSVAHS một cách đúng đắn, khoa học. Bởi lẽ, hồ sơ vụ án hình sự là một dạng hồ sơ có nét đặc thù so với các loại hồ sơ khác. Nội dung bên trong của HSVAHS chính là tài liệu, văn bản được tập hợp thông qua việc sắp xếp theo trình tự nhất định, nêu rõ được chủ thể xây dựng HSVAHS là các CQTHTT trong từng giai đoạn TTHS khác nhau.
Điểm hạn chế là khái niệm không nêu được thuộc tính nhà nước, thuộc tính bí mật của HSVAHS và thuộc tính liên quan của tài liệu. Đồng thời khái niệm cho rằng HSVAHS là “một tập tài liệu” thì chưa chính xác vì trên thực tế một HSVAHS có thể được chia thành nhiều tập tài liệu (do tính chất vụ án phức tạp hoặc do nhập vụ án). Mặt khác, sự không chính xác trong diễn đạt ở khái niệm trên là ở chỗ cho rằng một tập tài liệu bao gồm hệ thống các văn bản được các CQTHTT thu thập. Vô hình chung đã đánh đồng các hoạt động tố tụng chỉ là hoạt động thu thập các văn bản mà thôi.
Nó đã không phản ánh được hoạt động TTHS như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. ghi nhận dấu vết vào trong văn bản, tức là văn bản phản ánh việc ghi nhận các chứng cứ và kết quả tố tụng. Quan điểm của các tác giả trong Giáo trình kỹ năng xét xử VAHS do Trường đào tạo các Chức danh tư pháp biên soạn đưa ra khái niệm: “Hồ sơ vụ án hình sự là tập tài liệu bao gồm hệ thống các văn bản được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và được sắp xếp theo một trật tự nhất định để phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài”3. Quan điểm này cũng tương đồng với quan điểm nêu trên khi cho rằng HSVAHS là một tập tài liệu.
Bên cạnh đó có thể thấy rằng khái niệm này cũng gặp phải những hạn chế tương tự như 3 Trường Đào tạo các Chức danh tư pháp (2001), Giáo trình kỹ năng xét xử VAHS (tập 2), Nxb. Công an nhân dân, tr. luan an 8 trong quan điểm về HSVAHS. Tuy nhiên, khái niệm này có điểm mới là đã nêu bật được ý nghĩa của HSVAHS được lưu trữ lâu dài.
Thông qua các khái niệm trên, có thể nhận diện được một số đặc điểm của HSVAHS như sau: Thứ nhất, hồ sơ vụ án hình sự là một loại hồ sơ được lưu trữ lâu dài, phản ánh các hoạt động của CQTHTT và người tiến hành tố tụng trên cơ sở điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật TTHS , là căn cứ để cung cấp các thông tin, số liệu phục vụ cho việc báo cáo, thống kê, tổng kết. Thứ hai, việc lập và bổ sung HSVAHS được thực hiện theo từng giai đoạn tố tụng quy định và được thực hiện, hoàn thiện dần theo thứ tự số bút lục. Tùy từng vào giai đoạn tố tụng mà các CQTHTT và người tiến hành tố tụng trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình sẽ phải có trách nhiệm thu thập, tài liệu chứng cứ như biên bản ghi lời khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, kết luận định giá, kết luận điều tra, cáo trạng, quyết định biện pháp ngăn chặn, quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án.để hoàn thiện HSVAHS. Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các tài liệu, đồ vật, chứng cứ phản ánh toàn bộ diễn biến của vụ án và hoạt động tố tụng hình sự, được sắp xếp theo trình tự thống nhất, được cơ quan điều tra, truy tố, xét xử xác lập, tổng hợp và lưu giữ.
- Điều tra bổ sung vụ án hình sự Khoa học pháp lý đã xác định điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác liên quan đến vụ án, đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật, tạo cơ sở cho hoạt động xét xử của Tòa án. Về khái niệm điều tra bổ sung, theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Học Viện Cảnh sát nhân dân thì điều tra bổ sung là hoạt động của Cơ quan điều tra để nhằm phát hiện thu thập, bổ sung tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát hay của Tòa án để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng người đúng tội.Khái niệm này đã nêu rõ các chủ thể yêu cầu điều tra bổ sung, mục đích điều tra luan an 9 bổ sung và CQĐT chịu trách nhiệm điều tra bổ sung. Tuy nhiên, việc khẳng định điều tra bổ sung là “hoạt động điều tra thêm” còn mang tính chung chung. Vậy “điều tra thêm” là như thế nào, phải chăng là đã điều tra rồi nay điều tra thêm để làm rõ hơn hay là chưa điều tra một vấn đề nào đó nay bổ sung điều tra mới, điều tra lại.
Quan điểm khác cho rằng: trong trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng đối với vụ án, hoặc có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hay có một đồng phạm khác hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc của Tòa án, Cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra bổ sung, điều tra mới, điều tra lại. Tương tự, quan điểm khác chỉ nêu ngắn gọn: “ Điều tra bổ sung là những hoạt động điều tra cần phải thực hiện của Cơ quan điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát hay Tòa án nhằm đảm bảo cho việc truy tố, xét xử đúng đắn”. Ở mỗi quan điểm có cách nhìn nhận giống nhau và khác nhau về hoạt động điều tra bổ sung. Nhưng nhìn chung đã nêu lên được chủ thể có thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung là Viện kiểm sát và Tòa án, còn chủ thể phải thực hiện điều tra bổ sung là CQĐT khi cần phải “điều tra thêm” hay nói cách khác là “điều tra cần phải thực hiện”.
Tuy nhiên các quan điểm còn chưa nói rõ căn cứ của việc điều tra bổ sung như trong quan điểm thứ hai có thể giúp cho việc hiểu mục đích cụ thể của hoạt động điều tra bổ sung. Có thể nêu khái niệm điều tra bổ sung như sau: là hoạt động điều tra diễn ra sau khi đã chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát, Tòa án, do CQĐT tiến hành theo yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Toà án theo một trình tự, thủ tục nhất định trong trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng đối với vụ án, hoặc có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hay có một đồng phạm khác hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhằm đảm bảo cho việc truy tố, xét xử vụ án được khách quan, đúng đắn. Việc điều tra bổ sung được thực hiện khi hồ sơ vụ án đã được chuyển sang Viện kiểm sát để quyết định việc truy tố hoặc chuyển sang Toà án để xét xử sơ thẩm nhưng vì thiếu căn cứ để chứng minh tội phạm, người phạm tội. nên các cơ quan này quyết định trả hồ sơ cho cơ quan cảnh sát để điều tra bổ sung.
Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án Trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm là chế định pháp lý được quy định tại các Bộ luật TTHS 1988, 2003 và 2015 ( Điều 280).