Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Hoạt động tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp hội Việt Nam từ năm 2000 đến 2010. Chƣơng 3: Các điều kiện để Liên hiệp hội Việt Nam thực hiện tốt chức năng tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội. Kết luận Khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm Tƣ vấn (consultants) đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: “Tư vấn là một động từ chỉ hoạt động có chức năng góp ý cho người hay cấp có thẩm quyền”.1757] Sách hƣớng dẫn sử dụng tƣ vấn trong nƣớc do Dự án VIE/95/038 do Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam biên soạn định nghĩa tƣ vấn một cách tổng quát: “tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám cung cấp cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu (dự án hiểu theo nghĩa rộng)”.
Cũng theo sách hƣớng dẫn này, tƣ vấn đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa truyền thống, thì “tư vấn là hoạt động cung cấp lời khuyên độc lập và vô tư do một bên thứ ba thực hiện trên cơ sở hợp đồng dưới hình thức nào đó”. Điều này có nghĩa là tƣ vấn là cung cấp lời khuyên nhƣng phải độc lập và vô tƣ. “Độc lập ngụ ý rằng lời khuyên đưa ra, cho dù là dành cho một tổ chức thuộc khối công cộng hay một công ty tư nhân, phải xuất phát từ một người nào đó (nhà tư vấn) không phải là cán bộ của tổ chức/công ty đó và người này được tuyển dụng thường là trên cơ sở hợp đồng ngắn hạn hoặc tạm thời. Vô tư ngụ ý rằng lời khuyên đưa ra phải là quan điểm của nhà tư vấn và không bị tác động bởi các thành viên của tổ chức đang tìm kiếm lời khuyên theo bất cứ cách nào không được mong muốn”.34] Định nghĩa hẹp về tƣ vấn như là “cung cấp lời khuyên” đã được mở rộng đáng kể thành tham gia vào việc thực hiện các hệ thống quản lý thông 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua “hợp đồng phụ” hay là thông qua hình thức “nhập nguồn lực từ bên ngoài”.35] Hoạt động tƣ vấn có thể đƣợc tiếp cận theo hai hƣớng khác nhau: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Cách tiếp cận thứ nhất nhìn nhận Tƣ vấn theo nghĩa rộng xem xét Tƣ vấn là một hoạt động hay một chức năng. Nếu xem xét Tƣ vấn là một hoạt động hoặc chức năng thì nó “bao gồm bất cứ hình thức hỗ trợ nào về nội dung, quá trình hay cấu trúc của một hoặc một loạt công việc” có nghĩa là Tƣ vấn chỉ cung cấp những hỗ trợ hoặc trợ giúp cho quá trình ra quyết định hoặc điều hành, triển khai công việc mà không trực tiếp ra quyết định. Cách tiếp cận thứ hai, nhìn nhận Tƣ vấn theo nghĩa hẹp “coi Tư vấn là một dịch vụ chuyên môn”. Nếu hiểu theo cách tiếp cận này, thì tƣ vấn đƣợc coi là một loại hình dịch vụ mà sản phẩm của nó là sản phẩm đặc biệt - chất xám.
Sản phẩm đó có thể đƣợc hình thành qua quá trình cập nhật thông tin, kiến thức, xử lý thông tin, lựa chọn những giải pháp thích hợp cho từng trƣờng hợp cụ thể nhằm trợ giúp cho khách hàng ra quyết định hoặc triển khai những hoạt động cụ thể. Việc cung cấp những giải pháp, kiến thức không phụ thuộc bởi bất cứ sự tác động bên ngoài nào mà nó đƣợc cung cấp một cách độc lập, khách quan. Theo cách hiểu này, Nghị định 87/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 định nghĩa: “Hoạt động tư vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng tri thức chuyên môn, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá do các tổ chức chuyên môn và cá nhân Việt Nam thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn”. Ở Việt Nam, tƣ vấn đƣợc hiểu nhƣ trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tƣớng Chính phủ, khái niệm “tƣ vấn” đƣợc hiểu nhƣ sau: “Là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm, cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc đề xuất, xây dựng hoặc thẩm định và phê duyệt dự án”.
Từ những định nghĩa nêu trên, xuất phát từ tình hình thực tiễn triển khai hoạt động tƣ vấn tại Liên hiệp hội Việt Nam, nghiên cứu này quan niệm khái niệm tƣ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất là khái niệm đƣợc nêu trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tƣớng Chính phủ. Mục đích Trong quá trình đề xuất, xây dựng, thẩm định hoặc thực hiện đề án, thƣờng bắt buộc phải có đánh giá từ giai đoạn triển khai cho đến giai đoạn kết thúc dự án. Những đánh giá đó phải có cơ sở, luận cứ khoa học để minh chứng cho tính khả thi và thực tiễn của dự án. Hoạt động tƣ vấn chính là quá trình cung cấp, trợ giúp cơ sở, luận cứ khoa học cho dự án đó.
Hình thức thực hiện: Hoạt động tƣ vấn diễn ra dƣới các hình thức sau: - Các tổ chức thuộc các ngành, các cấp, các địa phƣơng (các tổ chức hữu quan) đặt yêu cầu cho đơn vị thực hiện tƣ vấn (các tổ chức hữu quan đóng vai trò chủ động). - Đơn vị thực hiện tƣ vấn chủ động gặp gỡ, đề xuất hoạt động tƣ vấn đối với các tổ chức hữu quan (đơn vị tƣ vấn đóng vai trò chủ động). - Ngoài ra, có thể thông qua hình thức đấu thầu để thực hiện nhiệm vụ tƣ vấn theo quy định chung của pháp luật (cả đơn vị tƣ vấn và các tổ chức hữu quan đều đóng vai trò chủ động). Đặc điểm: Với tính chất là một dịch vụ, hoạt động tƣ vấn có đặc điểm: - Qúa trình thực hiện tƣ vấn diễn ra liên tục trong đó có sự trao đổi thông tin qua lại giữa nhà tƣ vấn và bên sử dụng tƣ vấn.
Qúa trình này chỉ có thể đem lại hiệu quả cao nếu có sự hợp tác tích cực giữa hai bên. - Sản phẩm của hoạt động tƣ vấn luôn là sản phẩm cụ thể và có tính hiệu quả cao, trong đó thông tin hay cụ thể hơn là các tri thức, biện pháp, giải pháp xử lý các vấn đề đƣợc chú trọng. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Kết quả của hoạt động tƣ vấn vừa góp phần giải quyết trực tiếp vấn đề cần tƣ vấn nhƣng thông qua việc sử dụng những tri thức, kiến thức của nhà tƣ vấn, hoạt động tƣ vấn vừa góp phần nâng cao trình độ, năng lực của ngƣời sử dụng tƣ vấn. - Ngày nay, các nhà tƣ vấn vừa cung cấp dịch vụ tƣ vấn nhƣng cũng có thể tham gia vào việc thực hiện, hỗ trợ thực hiện một số giai đoạn hay cả chu trình tƣ vấn nhằm làm cho quá trình thực hiện từ giai đoạn tƣ vấn đến giai đoạn thực hiện xuyên suốt, không bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố khách quan.
Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, hoạt động tƣ vấn có những đặc thù riêng để phân biệt với các hoạt động khác: Hoạt động tư vấn đích thực không thể tách rời bốn loại hình có quan hệ hữu cơ: nghiên cứu, xử lý thông tin, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật. Chỉ có trên nền tảng nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề kinh tế và công nghệ, hình thành một cơ sở thông tin dữ liệu phong phú, hướng đích, các đơn vị tư vấn mới nâng cao được chất lượng và tính hiệu quả của dịch vụ tư vấn. Đồng thời, tổ chức việc đào tạo nội bộ dưới mọi hình thức linh hoạt để nâng cao trình độ, kiến thức và nghề nghiệp cũng như tổ chức những lớp học chuyên đề cho các cơ quan, đơn vị, khách hàng có yêu cầu, được xem như biện pháp tốt để tạo dựng hình ảnh tích cực cho đơn vị tư vấn.[12] Đối với bất cứ hoạt động nào thì việc nâng cao trình độ, năng lực là yếu tố quyết định nhằm nâng cao hiệu quả của bản thân hoạt động đó. Hoạt động tƣ vấn lại càng đặt ra yêu cầu khắt khe đối với nhà tƣ vấn.
Hoạt động tƣ vấn đòi hỏi nhà tƣ vấn phải có kiến thức vừa rộng vừa chuyên sâu. Muốn có đƣợc điều đó, hơn ai hết nhà tƣ vấn phải thƣờng xuyên tự nâng cao trình độ chuyên môn của mình thông qua quá trình đào tạo, qua sách vở, qua kinh nghiệm thực tiễn trong suốt một thời gian dài, có khi là kết quả hoạt động của cả một đời ngƣời, không thể một sớm một chiều mà có đƣợc. Những nhà tƣ vấn phải đồng thời là chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó. “Trong suốt quá trình công nghệ và tác nghiệp của nhà tư vấn thì dữ liệu là các yếu tố để phân tích, thông tin là dữ liệu có bối cảnh, kiến thức là 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông tin mang ý nghĩa, trí khôn là kiến thức cộng uyên thâm, còn tư vấn là chuyển giao trí khôn.[12] Cũng nhƣ các hoạt động khác, kiến thức chuyên môn là cần thiết nhƣng chƣa đủ.
Bất cứ nhà tƣ vấn hay đơn vị tƣ vấn nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp. Đây chính là yếu tố để phân biệt hoạt động tƣ vấn chuyên nghiệp với những loại hình tƣ vấn khác. Tính chất: Với vị trí độc lập (không phụ thuộc về hành chính và tài chính đối với người sử dụng tư vấn) và trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm phong phú của mình, nhà tƣ vấn đóng vai trò cố vấn, hƣớng dẫn, xúc tác, đạo diễn và thực hiện chức năng “tham mƣu, đốc chiến” cho các loại khách hàng theo từng lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn. Nhà tƣ vấn không trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc của khách hàng, chỉ chịu trách nhiệm về chất lƣợng của dịch vụ tƣ vấn mà không phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của công việc do khách hàng và bộ máy tổ chức của khách hàng chủ động thực hiện (ngoại trừ trƣờng hợp tƣ vấn đƣợc chủ dự án giao cho quản lý, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án).
Chính vì vậy, hoạt động tƣ vấn mang tính khách quan, độc lập, không bị lệ thuộc vào một áp đặt chủ quan nào.