Chương 1: Tổng quan về dịch vụ truyền hình IPTV Chương 2: Khảo sát thực trạng dịch vụ truyền hình IPTV tại Việt Nam hiện nay Chương 3: Xu hướng phát triển dịch vụ truyền hình IPTV và những giải pháp đề ra 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TRUYỀN HÌNH IPTV 1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 1.1 Khái niệm dịch vụ truyền hình IPTV IPTV là tên viết tắt của cụm từ Internet Protocol Television, thường được dịch sang tiếng Việt là truyền hình qua giao thức Internet và được giải thích là dịch vụ truyền tải hình ảnh kỹ thuật số được cung cấp tới người sử dụng qua giao thức IP trên mạng Internet với kết nối băng thông rộng. Để sử dụng dịch vụ truyền hình qua giao thức IP, khách hàng cần có bộ giải mã, đường truyền ADSL. Khả năng của IPTV gần như là vô hạn và mang đến những nội dung kỹ thuật số chất lượng cao như video theo yêu cầu - VoD (Video on Demand), hội thảo, truyền hình tương tác, game, giáo dục từ xa,… [33] IPTV còn được gọi là công nghệ “Triple-Play” (bao gồm: dữ liệu, âm thanh và hình ảnh) mà cụ thể là công nghệ hội tụ cung cấp đồng thời 3 dịch vụ phục vụ nhu cầu: Truyền hình Internet (IPTV), truy cập Internet (Data) và điện thoại Internet (điện VoIP) [27]. Theo Quy chuẩn Việt Nam QCVN 84:2014/BTTTT: “Dịch vụ IPTV là dịch vụ đa phương tiện (như truyền hình, video, audio, văn bản, đồ họa, số liệu) truyền tải trên các mạng viễn thông cố định dựa trên IP” [2].
Theo tổ chức Liên Hiệp Viễn Thông Quốc Tế ITU thì IPTV được định nghĩa rõ nét hơn: “Là dịch vụ đa phương tiện bao gồm truyền hình, video, audio, văn bản, đồ họa và dữ liệu qua một mạng IP và được quản lý để cung cấp mức độ yêu cầu của chất lượng dịch vụ và sự trải nghiệm, tính bảo mật, tính tương tác và độ tin cậy” [49]. IPTV là hạ tầng công nghệ truyền hình đóng vai trò phân phối các dữ liệu, kể cả hình ảnh, âm thanh, văn bản qua mạng sử dụng giao thức Internet. Một định nghĩa chung của IPTV là truyền hình, nhưng thay vì qua hình thức phát hình vô tuyến hay truyền hình cáp thì lại được truyền phát hình đến người xem thông qua các công nghệ sử dụng cho các mạng máy tính. Do thường được sử dụng với tên gọi truyền hình qua giao thức internet nên IPTV rất dễ bị nhầm lẫn với truyền hình internet và truyền hình di động.
Mặt khác, đối với những người mới tiếp cận lĩnh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vực truyền hình, cũng thật khó để phân biệt IPTV là truyền hình kỹ thuật số hay truyền hình cáp, bởi đây là hai công nghệ truyền hình hoàn toàn khác nhau. Bản chất của IPTV chính là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng viễn thông. Diễn giải rộng hơn thì IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng rộng IP phục vụ cho nhiều người dùng (ở đây được định nghĩa là các user). Các user này khi đã được định danh thì có thể thông qua máy vi tính PC hoặc máy thu hình phổ thông cộng với Set topbox để sử dụng dịch vụ IPTV.
Nghị định 06/2016/NĐ-CP đã có quy định về dịch vụ truyền hình cáp: Là loại hình dịch vụ phát thanh, truyền hình sử dụng hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng truyền hình cáp áp dụng các công nghệ khác nhau để cung cấp các kênh chương trình phát thanh, truyền hình đến người sử dụng dịch vụ, gồm: Dịch vụ truyền hình cáp tương tự; dịch vụ truyền hình cáp kỹ thuật số; dịch vụ truyền hình cáp giao thức Internet (IPTV) [21]. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả luận văn đưa ra định nghĩa: “IPTV là truyền hình kỹ thuật số, do các tín hiệu được mã hóa dưới dạng nhị phân (gồm 2 dãy số 0 và 1) trước khi được truyền dẫn trên dây cáp đến nhà của khách hàng. Trên sợi cáp, công nghệ truyền dẫn là công nghệ IP”. Nói cách khác, IPTV là truyền hình cáp kỹ thuật số, công nghệ IP, với nghĩa truyền tải truyền hình quảng bá, chương trình phát thanh và/hoặc video theo yêu cầu, có chất lượng cao trên mạng băng rộng.2 Khái niệm dịch vụ truyền hình Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện ra đời muộn, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển.
Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh. Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật công nghệ giúp truyền hình tạo ra phương pháp mới trong truyền đạt thông tin. Qua đó, truyền hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa: kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí [16]. Tại Nghị định 06/2016/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình số do Thủ tướng phê duyệt, có ghi rõ: Dịch vụ phát thanh, truyền hình là dịch vụ ứng dụng viễn thông để cung cấp nguyên vẹn các kênh chương trình 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong nước, kênh chương trình nước ngoài và dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến người sử dụng.
Dịch vụ phát thanh, truyền hình có thể được cung cấp trực tiếp đến người sử dụng dịch vụ không qua thiết bị lưu trữ, làm chậm (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu riêng biệt của thuê bao sử dụng dịch vụ (dịch vụ theo yêu cầu) [21]. Trong đó, các đối tượng chính để tạo ra dịch vụ truyền hình gồm: các đơn vị cung cấp và người sử dụng dịch vụ cũng được nghị định giải thích chi tiết. Đơn vị cung cấp nội dung: Là cơ quan báo chí có Giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình tại Việt Nam sở hữu bản quyền hoặc có thỏa thuận bản quyền hợp pháp đối với nội dung thông tin cung cấp trên dịch vụ phát thanh, truyền hình. Đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam đủ điều kiện cung cấp dịch vụ.
Người sử dụng dịch vụ: Là tổ chức, cá nhân có thiết bị đầu cuối đáp ứng yêu cầu sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình. Thuê bao sử dụng dịch vụ (gọi tắt là thuê bao): Là người sử dụng dịch vụ có giao kết với đơn vị cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền bằng hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương. Nội dung theo yêu cầu: Là các chương trình phát thanh, truyền hình; phim và các nội dung có hình ảnh hoặc âm thanh trong nước, nước ngoài khác đã đáp ứng các quy định chuyên ngành của pháp luật Việt Nam được cung cấp đến thuê bao theo yêu cầu, gồm cả nội dung trực tiếp theo lịch chương trình. Chương trình trong nước: Là chương trình phát thanh, truyền hình do cơ quan, tổ chức của Việt Nam sản xuất hoặc liên kết sản xuất theo quy định của pháp luật.
Chương trình nước ngoài: Là chương trình phát thanh, truyền hình do cơ quan, tổ chức của nước ngoài sản xuất, có ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng nước ngoài. Cước phí dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền: Là các loại chi phí người sử dụng dịch vụ phải chi trả để được nghe, xem kênh chương trình, chương trình và nội dung theo yêu cầu theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với thuê bao. Từ đó, ta có thể hiểu, dịch vụ truyền hình có sự tương tác hai chiều vô cùng rõ rệt. Một bên thực hiện hành động và một bên tiếp nhận hành động một cách chủ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, có nghĩa rằng cả hai bên đều biết được nhu cầu, sở thích và khả năng cung ứng của nhau.
Nếu một trong hai bên không thể tương tác hai chiều, mặc sức cung cấp cái mình muốn cung cấp hoặc buộc phải xem cái mình không muốn xem, thì kết quả của dịch vụ sẽ bị thay đổi theo chiều hướng xấu. Bên cạnh đó, đối tượng tiếp nhận của dịch vụ truyền hình có thể được gọi tên là: Khán giả, thuê bao, khách hàng, người sử dụng, đối tượng sử dụng hay công chúng. Hiểu rộng hơn, dịch vụ truyền hình ngày nay bị phụ thuộc rất nhiều vào sự thay đổi của công nghệ kỹ thuật, hay thói quen và hành vi của người sử dụng. Bởi một khi công nghệ thay đổi sẽ kéo theo phương thức kỹ thuật truyền dẫn phát sóng truyền hình.
Hoặc thói quen và hành vi của người sử dụng chuyển từ tivi đời cũ sang smartTV hoặc từ smartTV sang Smartphone cũng ảnh hưởng rất nhiều tới dịch vụ truyền hình. Từ đó nảy sinh ra các khái niệm: - Dịch vụ truyền hình theo yêu cầu: Việc phát các nội dung truyền hình được lựa chọn bắt đầu khi người sử dụng lựa chọn nội dung đó. Thông thường, nội dung là các bộ phim hay các phim đã được ghi lại từ một thư viện. Dịch vụ này có thể được sử dụng trong một thời gian giới hạn.
Các chức năng thường giống như chức năng của máy ghi hình (VCR) hay đầu DVD (DVD player): phát hình (play), dừng hình (pause), tua hình (fast forward), v. - Các dịch vụ thông tin: Ngày nay, người sử dụng các dịch vụ truyền hình có ứng dụng viễn thông và cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng thì ngoài việc xem truyền hình, đều có thể đọc các thông tin bao gồm tin tức thời sự, tin thể thao, dự báo thời tiết, thông tin về các chuyến bay, các sự kiện trong khu vực/địa phương,. trên chính thiết bị đầu cuối của nhà mình. - Truyền hình tương tác: “Kênh phụ” (back-channel) IP không chỉ cung cấp khả năng lấy thông tin mà còn cho phép người dùng tương tác với các show truyền hình hoặc khởi tạo các ứng dụng liên kết đến các chương trình đang chạy.
Các ví dụ điển hình của truyền hình tương tác là tham dự vào các trò chơi truyền hình, bình chọn qua truyền hình, phản hồi của người xem truyền hình, các chương trình thương mại. Người dùng cũng có thể thực hiện việc tương tác ngay khi đang xem một chương trình truyền hình nào đó mà không phải thoát khỏi kênh. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Khái niệm dịch vụ Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thực hiện và tiếp nhận rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ. Ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau.