Tổng quan luận án

Luận án "Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam (Lấy một số địa phương ở Đắc Lắc, Thanh Hóa, Ninh Bình làm ví dụ)" được tác giả Phạm Quang Anh thực hiện và bảo vệ năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. PTS. Nguyễn Vi Dân và GS. TS. Lê Đức An. Công trình thuộc chuyên ngành Bảo vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên (mã số 1.07.14), chuyên ngành phụ Địa mạo – Địa lý cảnh quan.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong thập niên 1990. Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóa phức tạp về điều kiện sinh thái cảnh quan, tạo ra nguồn tài nguyên phong phú cho các loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch xanh (du lịch sinh thái). Tuy nhiên, thực tế phát triển du lịch thời kỳ này bộc lộ nhiều bất cập: sự mâu thuẫn giữa khai thác du lịch với các ngành kinh tế khác; sự thiếu đồng bộ giữa mở rộng quy mô du lịch và nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên môi trường (bao gồm môi trường sinh thái, môi trường nhân văn và môi trường kỹ thuật); nguy cơ suy thoái "màu xanh" tự nhiên do khai thác quá tải và thiếu quy hoạch khoa học. Khoảng trống nghiên cứu lớn lúc bấy giờ là việc thiếu vắng một cơ sở phương pháp luận tổng hợp có khả năng mô phỏng quy luật vận hành của cấu trúc cảnh quan tự nhiên để áp dụng vào công tác tổ chức lãnh thổ du lịch bền vững.

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích và mô phỏng cấu trúc sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa nhằm ứng dụng vào việc định hướng tổ chức du lịch xanh hợp lý và bền vững trên lãnh thổ Việt Nam.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác lập cơ sở lý luận về cấu trúc sinh thái cảnh quan và mối liên hệ bản chất giữa cấu trúc cảnh quan với du lịch xanh.
  2. Phát hiện các nhân tố và quy luật hình thành cấu trúc sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.
  3. Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam.
  4. Ứng dụng mô phỏng cấu trúc sinh thái cảnh quan phục vụ định hướng tổ chức du lịch xanh ở một số địa phương trọng điểm.

Luận án xây dựng 2 luận điểm bảo vệ then chốt:

  • Luận điểm 1: Hệ thống cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam gồm 107 kiểu cảnh quan, phân bố trong 9 phụ lớp, 2 lớp, 3 phụ hệ và 1 hệ. Tính phân hóa đa dạng này là hệ quả tất yếu của mối tương tác phức tạp giữa hệ thống hoàn lưu khí quyển với hệ thống sơn văn địa hình trên nền tảng vị trí địa lý xác định.
  • Luận điểm 2: Cấu trúc sinh thái cảnh quan quyết định các thuộc tính của nguồn tài nguyên du lịch xanh tại các địa phương, từ đó đóng vai trò chi phối đối với việc định hướng tổ chức hệ thống lãnh thổ du lịch ở cả hai quy mô: vĩ mô (phạm vi toàn quốc) và vi mô (các cụm, điểm du lịch cụ thể).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc sinh thái cảnh quan và mối quan hệ tương tác qua lại giữa cấu trúc này với hoạt động tổ chức lãnh thổ du lịch xanh. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam ở cấp độ khái quát hóa hệ thống cảnh quan, đồng thời tập trung nghiên cứu sâu tại các địa bàn thực nghiệm đại diện: Ninh Bình (Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động), Thanh Hóa (Sầm Sơn và vùng phụ cận), Đắc Lắc (các tuyến du lịch cảnh quan cao nguyên), Nghệ An (thị xã Cửa Lò) và Hà Nội (hệ thống danh thắng nội - ngoại thành). Phạm vi tư liệu và thời gian nghiên cứu dựa trên khối dữ liệu thực địa tích lũy liên tục gần 30 năm (giai đoạn 1967 – 1996).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan toàn diện các hướng nghiên cứu về địa lý du lịch, cảnh quan học và tổ chức lãnh thổ nghỉ dưỡng trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

Trên phạm vi quốc tế, tác giả phân tích các hệ thống lý luận và phương pháp tổ chức lãnh thổ du lịch đã được đúc kết bởi các học giả Liên Xô (cũ) và phương Tây như Robinson (1976), Edington & Edington, Pirojnhik (1985), Jansen (1986), Gunn (1979, 1988), Miroshnichenko (nghiên cứu độ bền vững và sức chứa lãnh thổ), Mukhina (đánh giá mức độ thuận lợi của các tổ hợp tự nhiên đối với nghỉ dưỡng và hệ thống chỉ tiêu cảnh quan), Danilaitis và Kavaliauskas (1978, 1984), Mariot (1970 - quy hoạch vùng Bratislava, Tiệp Khắc cũ), Cazes (1990 - nghiên cứu vùng Benidorm, Pháp), Ce-Caspar (1990 - mô hình hệ thống không gian du lịch) và Bouchevarov M.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua Chương trình cấp Nhà nước về "Sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất" (Chương trình 70-01). Tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:

  • Hướng đánh giá tài nguyên tự nhiên: Nghiên cứu khí hậu du lịch của Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1988), Đặng Duy Lợi, Vũ Bội Kiếm (1991), Đào Ngọc Phong (1989); đánh giá tài nguyên động - thực vật tại các vườn quốc gia phục vụ du lịch của Nguyễn Đức Kháng (1988), Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Tiến Bân (1988); đánh giá tài nguyên nước khoáng và nước ngầm của Ngô Ngọc Cát, Nguyễn Xuân Tặng (1988); phân tích tài nguyên và môi trường du lịch của Lê Nhật Thúc, Lê Bá Thảo (1991).
  • Hướng đánh giá tài nguyên nhân văn và lịch sử: Công trình của Nguyễn Minh Tuệ (1996), Cống Thị Nghĩa (1990).
  • Hướng quy hoạch và tổ chức không gian du lịch: Nghiên cứu sơ đồ phân bố ngành du lịch của Lê Khả, Lê Nhật Thúc; tổ chức lãnh thổ du lịch của Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi (1991); dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Du lịch Quốc tế (1990) có sự tham gia của Vũ Hoan, Lê Nhật Thúc; các đề án quy hoạch cụ thể tại Đại Lải (Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi), Quảng Ninh (Sở Văn hóa Thông tin và Du lịch), An Giang – Châu Đốc, Đà Lạt; công trình tổng kết lý luận đánh giá tự nhiên cho quy hoạch du lịch Ba Vì của Đặng Duy Lợi (1992).

Từ việc phân tích tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra 5 khoảng trống nghiên cứu cơ bản:

  1. Các công trình trước đây thường thiên lệch về một phía: hoặc chỉ thuần túy đánh giá điều kiện tự nhiên mà tách rời các yếu tố nhân văn, hoặc chỉ tập trung vào khía cạnh lịch sử – văn hóa mà bỏ qua nền tảng tự nhiên định hình nên cảnh quan. Khái niệm "danh lam thắng cảnh" vốn dĩ là một tổ hợp tích hợp giữa tự nhiên, sinh thái và nhân văn nhưng chưa được nhìn nhận một cách tổng thể theo quan điểm sinh thái cảnh quan.
  2. Các quy hoạch phát triển du lịch chưa tính toán đầy đủ mối liên hệ liên ngành mật thiết giữa du lịch với các ngành kinh tế khác trong cùng một cơ cấu kinh tế vùng, dẫn đến tình trạng xung đột tài nguyên và triệt tiêu động lực phát triển.
  3. Thiếu cơ sở khoa học về bảo vệ môi trường để phát triển du lịch xanh (du lịch sinh thái) bền vững; chưa làm rõ mối quan hệ giữa quy luật cấu trúc sinh thái cảnh quan với yêu cầu tôn tạo, đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
  4. Công tác quy hoạch thực tế tại các địa phương thường chỉ dừng lại ở việc kết nối cơ học các điểm đến có sẵn (thắng cảnh, di tích) bằng một tuyến giao thông, chưa khai thác được tính hấp dẫn của sự đa dạng cảnh quan trên toàn bộ lộ trình lữ hành.
  5. Về mặt tài liệu học thuật, các giáo trình địa lý du lịch còn mang tính đại cương sơ lược, trong khi các chuyên khảo lại mang tính mô tả cục bộ cho từng địa phương, thiếu hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh gắn liền giữa sinh thái cảnh quan và du lịch sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên lý luận sinh thái cảnh quan hiện đại của C. Troll (1971) và S. Lieberman (1989), đồng thời phát triển và vận dụng trực tiếp lý thuyết Mô hình Hệ kinh tế sinh thái (Socio-Ecological Economic Systems – SEES) do chính tác giả Phạm Quang Anh đề xuất (1983, 1991).

Hệ kinh tế sinh thái được định nghĩa là một hệ thống cấu trúc và chức năng thể hiện mối quan hệ biện chứng và nhất quán giữa xã hội và tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ nhất định. Hệ thống này phản ánh các tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp của con người trên ba mặt: khai thác, sử dụng và bảo vệ tiềm năng tài nguyên, tạo nên chu trình vận hành và bù hoàn vật chất – năng lượng – tiền tệ.

Phân hệ Cấu trúc cơ bản (CT) Nội dung thành phần Mối quan hệ chức năng chính
I. Phân hệ tự nhiên CT1: Đại khí hậu Bức xạ mặt trời, nhiệt độ, chế độ gió, mưa mùa Nguồn năng lượng đầu vào, quyết định tính nhịp điệu mùa của các hoạt động kinh tế – xã hội.
CT2: Kiến tạo và thạch học Các hệ đá Magma, đá trầm tích lục nguyên, biến chất, trầm tích mới Quyết định nền vật chất rắn, khoáng sản, lịch sử hình thành lãnh thổ và vỏ phong hóa thổ nhưỡng.
CT3: Địa hình Sơn văn, độ dốc, các đai cao địa hình Phân hóa vật chất và năng lượng theo đai cao và hướng sườn, tạo ranh giới các đơn vị cảnh quan.
CT4: Tiểu khí hậu và trường nhiệt ẩm Trường nhiệt ẩm, chế độ tiểu khí hậu cụ thể Quyết định cơ cấu mùa vụ cây trồng, vật nuôi; ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người.
CT5: Đất và nền dinh dưỡng Các loại đất, tầng đất, độ phì Tích lũy và dự trữ hóa năng; môi trường phân hủy sinh học, tư liệu sản xuất nông – lâm nghiệp.
CT6: Sinh vật Thực vật, động vật, thảm phủ thực bì Thực hiện chu trình sinh – địa – hóa, tích lũy chất hữu cơ, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn.
II. Phân hệ xã hội CT7: Con người và dân cư Dân tộc, phân bố dân cư, quản lý, tri thức ("sĩ") Đóng vai trò chủ thể điều khiển; trình độ tri thức chi phối hiệu quả kinh tế và mức độ bền vững môi trường.
III. Phân hệ sản xuất CT8: Nông nghiệp Trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản Sản xuất sinh khối nhân sinh, bảo đảm nhu cầu sống cơ bản; vận hành chu trình kinh tế tài nguyên.
CT9: Công nghiệp Khai khoáng, chế biến, cơ khí, tiểu thủ công nghiệp Chế biến nguyên liệu, tạo sản phẩm hàng hóa, cung cấp công cụ lao động hiện đại cho xã hội.
CT10: Công nghệ tái sinh Công nghệ tái chế, xử lý phế thải, tái tạo tài nguyên Khép kín chu trình phế thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, biến tài nguyên khó phục hồi thành phục hồi được.
CT11: Lưu thông và thông tin Vận tải, phân phối sản phẩm, viễn thông, thị trường Điều phối vật chất, sản phẩm, cân bằng cung – cầu, đảm bảo truyền tải thông tin và chu chuyển giá trị.

Hệ thống SEES gồm 11 cấu trúc cơ bản vận hành thông qua 35 chức năng sinh thái – kinh tế. Luận án nhấn mạnh cấu trúc con người (CT7) với thành tố tri thức ("sĩ") đứng đầu chuỗi liên hoàn "Sĩ – Nông – Công – Thương", kết hợp với 3 điều kiện địa lý "Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa".

Từ mô hình SEES, tác giả thiết lập Bài toán kinh tế sinh thái gồm 7 hệ tham biến liên hoàn:

  • [1] Khảo sát, đánh giá tiềm năng và quy hoạch lãnh thổ.
  • [2] Phân bố dân cư và phân công lao động theo quy hoạch.
  • [3] Tổ chức quy trình sản xuất thích hợp với từng vùng địa lý.
  • [4] Tiếp cận, tạo lập và điều chỉnh thị trường tiêu thụ.
  • [5] Đánh giá hiệu quả kinh tế song song với hệ quả sinh thái môi trường.
  • [6] Tổng kiểm toán toàn diện sau khi tính toán chi phí xử lý môi trường và mức độ suy thoái tài nguyên.
  • [7] Tái đầu tư cho giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cán bộ.

Trong lĩnh vực du lịch, nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ đồng nhất về không gian ("khách du lịch" vừa là đầu vào vừa là đầu ra), việc giải bài toán kinh tế sinh thái đòi hỏi phải đặt khâu đánh giá hiệu quả môi trường và kiểm toán sinh thái lên trước, tránh tình trạng "lợi nhuận âm" khi chi phí phục hồi môi trường và xã hội vượt xa doanh thu du lịch thu được.

Về khái niệm Du lịch xanh, luận án xác định đây là hình thức du lịch hòa mình vào thiên nhiên xanh gắn liền với bảo vệ môi trường, mang bản chất tương đồng với thuật ngữ du lịch sinh thái (Ecotourism), vận hành dựa trên sự mô phỏng cấu trúc của một đơn vị sinh thái cảnh quan.

Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng 3 quan điểm tiếp cận chủ đạo:

  • Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Xem xét mọi thành phần tự nhiên trong mối quan hệ tương tác hữu cơ định hình nên đặc thù của các đơn vị địa sinh thái; tích hợp yếu tố tự nhiên với hoạt động nhân văn lịch sử của cộng đồng cư dân.
  • Quan điểm hệ thống: Coi mỗi điểm, cụm và vùng du lịch là một bộ phận cấu trúc có chức năng xác định nằm trong hệ thống thứ bậc không gian lớn hơn.
  • Quan điểm dự báo theo hệ thống địa lý: Dự báo biến động của các đơn vị kinh doanh du lịch dựa trên quy luật tương tác không gian và thời gian giữa các hợp phần tự nhiên và nhân văn.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp thống kê hệ thống và so sánh: Thu thập dữ liệu theo đề cương và biểu mẫu thống nhất qua 4 nguồn (tài liệu lưu trữ, khảo sát đo đạc thực địa, đo tính trắc lượng trên bản đồ, điều tra qua phiếu hỏi từ cán bộ và người dân địa phương).
  • Phương pháp bản đồ và ảnh viễn thám: Giải đoán ảnh vệ tinh và ảnh hàng không nhằm xác định chính xác các ranh giới phân hóa lãnh thổ; xây dựng bản đồ chuyên đề sinh thái cảnh quan làm cơ sở định vị không gian và tích hợp công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS).
  • Phương pháp điều tra thực địa tổng hợp: Tiến hành đo đạc trực tiếp ngoài thực địa, nghiên cứu các mối liên hệ tự nhiên – nhân văn, kiểm định các mô hình tính toán trong phòng và xác minh các mô hình hệ kinh tế sinh thái trong thực tiễn.
  • Phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường danh thắng: Kế thừa lý luận đánh giá tác động môi trường đại cương, xây dựng bảng tiêu chí đánh giá sức tải và hiện trạng môi trường cảnh quan tại các điểm du lịch.

Nguồn tư liệu thực chứng được tổng hợp từ các chương trình điều tra địa lý tổng hợp mà tác giả trực tiếp thực hiện trong giai đoạn 1967 – 1996: vùng đồng cỏ Ngân Sơn (1967 – 1969), Hà Giang (1973 – 1976), Tây Nguyên (1977 – 1986), Át-lát Đắc Lắc và hệ sinh thái cà phê (1982 – 1985), chương trình hợp tác quốc tế nghiên cứu cảnh quan Việt Nam (1983 – 1988), điều tra dải ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận (1987 – 1991), khu nghỉ dưỡng Bạch Mã (1992 – 1994), Tam Cốc – Bích Động và Hoa Lư (1993 – 1994), vùng biên giới Tây Nam (1994 – 1997), cùng các khảo sát tại Ba Vì, Hải Phòng, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Hội An và Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc sinh thái cảnh quan và mối liên hệ của nó với du lịch xanh

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án. Tác giả tổng hợp các trường phái nghiên cứu địa lý du lịch quốc tế và trong nước, phân tích các mô hình hệ thống lãnh thổ du lịch của Bouchevarov, Ce-Caspar, Pirojnhik và Vũ Tuấn Cảnh. Luận án chỉ ra điểm hạn chế của các sơ đồ trước đây là thường tách 5 loại môi trường ra bên ngoài hệ thống du lịch như những yếu tố ngoại lai tác động thuần túy, chưa phản ánh được cơ chế nội sinh và sự chuyển hóa năng lượng bên trong hệ thống.

Để khắc phục hạn chế này, tác giả luận giải chi tiết bản chất của Hệ kinh tế sinh thái (SEES) gồm 11 cấu trúc và 35 chức năng. Luận án so sánh chi tiết giữa các yếu tố tài nguyên du lịch (theo cách phân loại của Nguyễn Minh Tuệ, 1996) với các hợp phần cấu trúc sinh thái cảnh quan:

Nhóm yếu tố Chỉ tiêu tài nguyên du lịch Thành phần cấu trúc sinh thái cảnh quan
Yếu tố tự nhiên Địa hình, Khí hậu, Tài nguyên nước, Tài nguyên động - thực vật Nền tảng vật chất rắn (cấu trúc địa chất); Địa hình; Nền tàng nhiệt ẩm (đới khí hậu); Đất trồng; Sinh quần thể sinh vật
Tổ hợp tự nhiên Tổ hợp ven biển; Tổ hợp đồng bằng; Tổ hợp đồng bằng - đồi; Di sản thiên nhiên Lớp cảnh quan đồng bằng (phụ lớp ven biển, phụ lớp đồng bằng xen đồi); Lớp cảnh quan núi; Kiểu cảnh quan đặc biệt
Yếu tố nhân văn Di sản văn hóa thế giới; Di tích lịch sử - văn hóa; Danh lam thắng cảnh; Di tích khảo cổ, làng nghề; Công trình kinh tế đương đại; Điểm nghỉ dưỡng, thể thao Cảnh quan văn hóa; Cảnh quan văn hóa đặc biệt; Cảnh quan văn hóa gắn với di tích tôn giáo, tín ngưỡng; Cảnh quan nhân văn gắn với công trình thủy điện, bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

Thống kê số lượng chỉ tiêu cho thấy: địa hình (3 chỉ tiêu tài nguyên du lịch tương ứng với 8 chỉ tiêu sinh thái cảnh quan), khí hậu (8 tương ứng 10), nước (7 tương ứng 12), sinh vật (7 tương ứng 12). Sự tương đồng chặt chẽ này khẳng định các đơn vị sinh thái cảnh quan hoàn toàn có thể sử dụng làm cơ sở dữ liệu định lượng cho việc hoạch định và quản lý các hệ thống lãnh thổ du lịch xanh.

Chương 2: Cấu trúc sinh thái cảnh quan Việt Nam – Nhiệt đới gió mùa

Chương 2 phân tích các quy luật tự nhiên hình thành nên cấu trúc sinh thái cảnh quan trên lãnh thổ Việt Nam:

  1. Vị trí địa lý: Nằm trên diện tích khoảng 330.000 km², tiếp nhận tổ hợp các khối cấu trúc kiến tạo: khối Hoa Nam, hệ uốn nếp Lào – Việt, khối nhỡ Kon Tum, khối Lâm Đồng – Sài Gòn và khối kiến tạo châu thổ Nam Bộ. Tác động thường xuyên của lực Coriolis trong đới nội chí tuyến bờ tây Thái Bình Dương tạo nên dạng đường bờ cong hình chữ S, thể hiện sự cân bằng động giữa lực mài mòn của đại dương và lực chống chịu của lục địa.
  2. Hệ thống sơn văn: Đa dạng về nguồn gốc và hình thái, phân bố kéo dài chủ yếu theo 4 phương chính: Tây Bắc – Đông Nam, Đông Bắc – Tây Nam, kinh tuyến và vĩ tuyến. Hệ thống sơn văn phân hóa lớp đá mẹ (trầm tích đệ tứ ở đồng bằng ven biển; trầm tích cổ ở vùng đồi trung du bán sơn địa; đá vôi ở vùng núi đá phía Bắc; macma axit ở vùng núi cao), tạo tiền đề phân hóa lớp phủ thổ nhưỡng và trường nhiệt ẩm.
  3. Hệ thống hoàn lưu: Chịu sự chi phối đồng thời của nhiều luồng hoàn lưu khí quyển:
    • Gió mùa Tây Nam (tháng V – X) tác động khác nhau giữa Nam Bộ, Tây Nguyên và dải duyên hải Trung Bộ.
    • Gió mùa Đông Bắc qua lục địa khô và lạnh gây thời tiết hanh khô (tháng XI – IV).
    • Gió mùa Đông Bắc qua biển lạnh ẩm gây mưa cho Trung Bộ từ tháng IX đến tháng XII (trừ Thanh Hóa).
    • Tín phong mùa đông di chuyển sâu xuống vùng biển phía Nam.
    • Dải hội tụ nhiệt đới kèm áp thấp nhiệt đới và bão (tháng V – XI).
    • Hoạt động của hoàn lưu địa phương (gió đất – gió biển) tăng dần cường độ từ Bắc vào Nam.

Từ các phân tích trên, luận án lần đầu tiên đưa ra khái niệm "Hệ thống trường tương tác hoàn lưu – địa hình" để giải thích cơ chế phân hóa vật chất, năng lượng và hình thành các đơn vị cảnh quan. Kết quả phân loại hệ thống cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam bao gồm:

  • 1 hệ: Hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam.
  • 3 phụ hệ cảnh quan.
  • 2 lớp cảnh quan: Lớp cảnh quan đồng bằng và Lớp cảnh quan đồi núi.
  • 9 phụ lớp cảnh quan (bao gồm phụ lớp cảnh quan đồng bằng ven biển, phụ lớp đồng bằng xen đồi, phụ lớp núi thấp, núi trung bình, núi cao...).
  • 107 kiểu cảnh quan sinh thái cụ thể.

Chương 3: Định hướng ứng dụng cấu trúc sinh thái cảnh quan định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam

Chương 3 triển khai các giải pháp ứng dụng thực tiễn của cấu trúc cảnh quan vào công tác tổ chức du lịch xanh:

  • Phân tích tiềm năng và đánh giá hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch xanh trên nền cảnh quan nhiệt đới gió mùa.
  • Xác lập quan điểm mô phỏng cấu trúc: Doanh nghiệp du lịch và các nhà hoạch định không áp đặt cấu trúc nhân tạo chủ quan mà phải thiết kế các tuyến, điểm du lịch dựa trên sự mô phỏng dòng vật chất – năng lượng của chu trình sinh – địa – hóa tự nhiên.
  • Định hướng quy hoạch tổ chức du lịch xanh tại các địa bàn cụ thể:
    • Khu vực Ninh Bình (Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc – Bích Động): Đánh giá cấu trúc cảnh quan karst ngập nước kết hợp di tích lịch sử cố đô; định hướng tổ chức tuyến du lịch sinh thái thuyền nan trên sông Ngô Đồng, phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt vùng lõi cảnh quan và vùng đệm dịch vụ.
    • Khu vực Thanh Hóa (Sầm Sơn và phụ cận): Phân tích tương tác dải cồn cát ven biển với vùng đồng bằng bán sơn địa phụ cận; đề xuất mở rộng không gian du lịch từ nghỉ dưỡng biển thuần túy sang kết nối các tuyến sinh thái văn hóa nội địa.
    • Khu vực Đắc Lắc: Tổ chức các tuyến du lịch xanh trên cao nguyên bazan, tích hợp cảnh quan rừng nhiệt đới, hệ sinh thái thác nước, hồ cảnh quan gắn với bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa (như không gian du lịch Bản Đôn, hồ Lắk).
    • Khu vực Cửa Lò (Nghệ An): Xây dựng mô hình định hướng quy hoạch thị xã Cửa Lò theo mô hình một hệ kinh tế sinh thái du lịch và nghỉ dưỡng hoàn chỉnh, xử lý đồng bộ giữa phát triển đô thị du lịch biển với hệ thống cây xanh cách ly và hạ tầng xử lý chất thải sinh hoạt.
    • Khu vực Hà Nội: Thử nghiệm phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường tại các danh lam thắng cảnh tiêu biểu (Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Chùa Hương, Ba Vì) trên quan điểm cân bằng sinh thái cảnh quan đô thị.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Vận dụng sáng tạo lý luận về Hệ kinh tế sinh thái (SEES) vào lĩnh vực địa lý du lịch, cung cấp một khung phân tích khoa học có khả năng tích hợp đồng thời các yếu tố tự nhiên, xã hội và sản xuất trong một chỉnh thể thống nhất.
  • Lần đầu tiên đề xuất và luận giải khái niệm "Hệ thống trường tương tác hoàn lưu – địa hình", giúp làm sáng tỏ cơ chế phân hóa không gian của cấu trúc sinh thái cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam.
  • Thiết lập sơ đồ lý thuyết "Hệ thống lãnh thổ du lịch" phù hợp với các điều kiện địa lý tự nhiên và nhân văn đặc thù của Việt Nam, gắn chu trình kinh tế tài nguyên với chu trình sinh – địa – hóa.
  • Bước đầu xây dựng và thử nghiệm phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường danh lam thắng cảnh dựa trên các nguyên lý sinh thái cảnh quan.

Về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng bản phân loại hệ thống cảnh quan Việt Nam gồm 107 kiểu thuộc 9 phụ lớp, 2 lớp, 3 phụ hệ và 1 hệ, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ thiên nhiên.
  • Đề xuất các mô hình quy hoạch cụ thể cho các trung tâm du lịch trọng điểm (Ninh Bình, Sầm Sơn, Đắc Lắc, Cửa Lò, Hà Nội), đóng góp các giải pháp trực tiếp cho công tác tổ chức lãnh thổ du lịch xanh cấp địa phương và liên vùng.
  • Cung cấp tài liệu khoa học phục vụ công tác giảng dạy chuyên ngành Địa lý du lịch, Cảnh quan học và Quy hoạch lãnh thổ tại các trường đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do điều kiện kỹ thuật tại thời điểm nghiên cứu (năm 1996), việc ứng dụng công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS) và ảnh viễn thám mới ở bước đầu định hình khung phương pháp, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu số hóa đồng bộ và tự động hóa hoàn toàn trên quy mô cả nước. Phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường danh thắng chủ yếu mới áp dụng thử nghiệm ở mức độ định tính và bán định lượng tại một số điểm nghiên cứu trọng điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là: tiếp tục ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám độ phân giải cao để số hóa và chi tiết hóa bản đồ sinh thái cảnh quan; hoàn thiện bộ chỉ số định lượng về sức chịu tải sinh thái du lịch cho từng kiểu cảnh quan đặc thù; mở rộng mô hình hệ kinh tế sinh thái du lịch sang các vùng biển đảo và vùng núi cao hiểm trở trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp tiếp cận địa lý tổng hợp, phương pháp phân tích hệ thống cấu trúc – chức năng cảnh quan và ứng dụng mô hình kinh tế sinh thái.
  • Cơ quan quản lý Nhà nước và đơn vị tư vấn quy hoạch: Cung cấp luận cứ khoa học và phương pháp đánh giá tài nguyên phục vụ lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, quy hoạch bảo tồn danh thắng tại các địa phương (Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường).
  • Giảng viên và sinh viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong các học phần Địa lý cảnh quan, Địa lý du lịch, Quản lý tài nguyên môi trường và Quy hoạch không gian du lịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "Hệ kinh tế sinh thái" (SEES) trong luận án được hiểu như thế nào?
Hệ kinh tế sinh thái (SEES) là một hệ thống cấu trúc và chức năng thể hiện mối quan hệ biện chứng, nhất quán giữa xã hội và tự nhiên trên một đơn vị lãnh thổ xác định. Hệ thống này bao gồm 11 cấu trúc cơ bản phân bố trong 3 phân hệ (tự nhiên, xã hội, sản xuất) thực hiện 35 chức năng, vận hành thông qua chu trình trao đổi vật chất – năng lượng – tiền tệ nhằm đạt hiệu quả kinh tế song song với duy trì trạng thái môi trường bền vững.

2. Hệ thống cảnh quan Việt Nam được luận án phân loại thành bao nhiêu cấp bậc và kiểu cảnh quan?
Hệ thống cảnh quan Việt Nam nhiệt đới gió mùa được luận án phân chia thành 5 cấp bậc phân loại gồm: 1 hệ (Hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa), 3 phụ hệ, 2 lớp (Lớp cảnh quan đồng bằng và Lớp cảnh quan đồi núi), 9 phụ lớp và tổng cộng 107 kiểu cảnh quan sinh thái cụ thể.

3. Khái niệm "Hệ thống trường tương tác hoàn lưu – địa hình" có ý nghĩa gì trong luận án?
Đây là khái niệm do tác giả đưa ra nhằm giải thích quy luật hình thành tính đa dạng của cảnh quan Việt Nam. Khái niệm này chỉ ra rằng sự phân hóa nhiệt ẩm, thổ nhưỡng và sinh thái cảnh quan trên lãnh thổ là kết quả tương tác trực tiếp giữa các luồng hoàn lưu khí quyển (gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông Bắc lục địa/biển, Tín phong, bão) với các hệ thống sơn văn địa hình (các hướng núi Tây Bắc – Đông Nam, Đông Bắc – Tây Nam, đai cao) trên nền tảng vị trí địa lý cụ thể.

4. Bài toán kinh tế sinh thái áp dụng cho ngành du lịch gồm những tham biến nào?
Bài toán kinh tế sinh thái gồm 7 hệ tham biến liên hoàn: (1) Khảo sát, đánh giá tiềm năng và quy hoạch; (2) Phân bố dân cư và phân công lao động; (3) Tổ chức quy trình sản xuất theo vùng địa lý; (4) Tiếp cận và tạo lập thị trường; (5) Đánh giá hiệu quả kinh tế và hệ quả môi trường sinh thái; (6) Tổng kiểm toán sau khi tính toán chi phí xử lý môi trường và suy giảm tài nguyên; (7) Tái đầu tư cho giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.

5. Luận án đã tiến hành thử nghiệm ứng dụng quy hoạch du lịch xanh tại những địa phương nào?
Luận án đã ứng dụng mô hình nghiên cứu tại các địa bàn đại diện: khu vực Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), đô thị du lịch biển Sầm Sơn và phụ cận (Thanh Hóa), các tuyến du lịch cảnh quan cao nguyên (Đắc Lắc), mô hình hệ kinh tế sinh thái du lịch thị xã Cửa Lò (Nghệ An) và đánh giá hiện trạng môi trường danh lam thắng cảnh tại Hà Nội.

Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Quang Anh là công trình nghiên cứu hệ thống về việc ứng dụng lý luận cấu trúc sinh thái cảnh quan vào tổ chức lãnh thổ du lịch xanh tại Việt Nam. Bằng việc xây dựng mô hình Hệ kinh tế sinh thái (SEES) với 11 cấu trúc, 35 chức năng và xác lập hệ thống 107 kiểu cảnh quan nhiệt đới gió mùa, công trình đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái. Các kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp quan trọng về mặt lý luận địa lý tổng hợp mà còn cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho công tác quy hoạch du lịch bền vững tại các địa phương trên phạm vi cả nước.