Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn "Di sản văn học của dòng văn Trường Lưu (Hà Tĩnh) từ góc nhìn văn hóa", chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121), do nghiên cứu sinh Nguyễn Tùng Lĩnh thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Biện Minh Điền tại Trường Đại học Vinh (năm 2022).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc đối với các hiện tượng mang tính tập hợp như nhóm, văn phái hay dòng văn của một dòng họ là một nhiệm vụ quan trọng. Dòng họ Nguyễn Huy tại làng Trường Lưu (xã Kim Song Trường, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) là dòng họ khoa bảng có lịch sử hơn 600 năm, sản sinh nhiều nhà chính trị, ngoại giao, văn hóa với khối lượng trước tác lớn. Đây cũng là chủ nhân của Thư viện Phúc Giang (Trường học Phúc Giang) và sở hữu hai di sản được UNESCO ghi danh là Mộc bản Trường Lưu và Hoàng Hoa sứ trình đồ. Trong khi dòng văn họ Nguyễn Tiên Điền đã được khảo cứu sâu rộng, di sản của dòng văn Trường Lưu và mối liên hệ giữa hai dòng văn này dưới góc nhìn văn hóa học vẫn chưa được nghiên cứu một cách tập trung, chuyên biệt và hệ thống.
  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát, nhận diện dòng văn Trường Lưu, luận án phân tích làm rõ quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm của dòng văn và di sản văn học của dòng văn Trường Lưu; xác định vai trò của dòng văn này trong lịch sử văn học dân tộc, trong sự hình thành Văn phái Hồng Sơn và sự phát triển của lịch sử văn hóa địa phương Hà Tĩnh; từ đó đề xuất hướng bảo tồn, phát huy và khai thác giá trị văn hóa của di sản trong bối cảnh hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu dòng văn Trường Lưu và xác lập cơ sở lý thuyết cho việc thực hiện đề tài từ góc nhìn văn hóa.
    2. Nhận diện dòng văn Trường Lưu, khái quát bối cảnh hình thành và quá trình vận động, phát triển của dòng văn này.
    3. Đi sâu phân tích, xác định đặc điểm của một số hiện tượng tiêu biểu từ di sản văn học dòng văn Trường Lưu; khái quát, minh định các giá trị văn hóa của di sản văn học dòng văn Trường Lưu.
    4. Đề xuất hướng tiếp cận, khai thác các giá trị văn hóa của di sản văn học dòng văn Trường Lưu nhằm phục vụ cho các hoạt động văn hóa hiện nay.
  • Đối tượng nghiên cứu: Di sản văn học của dòng văn Trường Lưu (Hà Tĩnh) từ góc nhìn văn hóa.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian và thời gian: Làng Trường Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh và vùng văn hóa núi Hồng - sông Lam; diễn trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.
    • Văn bản khảo sát: Toàn bộ các tác phẩm của dòng văn Trường Lưu đã được sưu tầm, công bố trong các công trình như Các tác giả dòng văn Nguyễn Huy Trường Lưu - Cuộc đời và tác phẩm (2012), Tuyển tập Thơ văn Nguyễn Huy Oánh (2005), Dòng văn Nguyễn Huy ở Trường Lưu (2000), Sơ học chỉ nam, Thạc Đình di cảo (2014), Phụng sứ Yên kinh tổng ca (2014), Hoàng Hoa sứ trình đồ (2018), Nguyễn Huy Quýnh - Cuộc đời và thơ văn (2012), Hoa tiên (1978), Nguyễn Huy Hổ với Mai đình mộng ký (1997), Nguyễn Huy Vinh với Chung Sơn di thảo (2005), cùng gần 70 bản sắc phong và hai cuốn gia phả (Lai Thạch Nguyễn thị gia tàng, Phượng Dương Nguyễn tông thế phả).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa nguồn tài liệu nghiên cứu về dòng văn Trường Lưu qua các giai đoạn lịch sử:

  • Ghi nhận trong thư tịch cổ (thế kỷ XVII - XIX):
    • Văn bia và chính sử: Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long số 71 (Dương Công Thụ soạn) ghi danh Thám hoa Nguyễn Huy Oánh khoa Mậu Thìn (1748); bia số 79 (Phan Trọng Phiên soạn) ghi danh Tiến sĩ Nguyễn Huy Quýnh khoa Nhâm Thìn (1772). Sự nghiệp của các tác giả được chép trong Bắc sứ thông lục của Lê Quý Đôn (1761), Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch chí) của Phan Huy Chú, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đỉnh Khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Tam khôi lục.
    • Ghi chép của danh sĩ và địa chí: Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tùy bút xếp Nguyễn Huy Oánh là nhà thơ có tiếng thời Vĩnh Hựu, Cảnh Hưng và thuật lại khoa thi của Nguyễn Huy Quýnh; Trương Quốc Dụng trong Thoái thực ký văn (1851) chép về thời trẻ của Nguyễn Huy Oánh; Bùi Dương Lịch trong Nghệ An ký mô tả hoạt động lập thư viện vạn quyển và dạy học của Nguyễn Huy Oánh; các văn bản nhuận sắc truyện Hoa tiên của Nguyễn Thiện, Vũ Đãi Vấn (1829), Cao Bá Quát (1843).
  • Giai đoạn trước năm 1945: Tản Đà khảo cứu trong bài viết "Văn Hoa tiên và văn Kiều" (Phụ nữ Tân văn, 1934); Nguyễn Tiến Lãng diễn thuyết tại Huế về Hoa tiên (1937); Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) và Thi văn hợp tuyển (1943) xếp Hoa tiên cùng hàng với Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc; Kiều Thanh Quế so sánh Kiều và Hoa tiên trên tạp chí Tri Tân (1942); Hoàng Xuân Hãn giới thiệu Mai đình mộng ký trên tạp chí Thanh Nghị (1943), công bố bài "Nguồn gốc Văn Kiều" (1944) và là người đầu tiên đưa ra khái niệm "Hồng Sơn văn phái" (1943).
  • Giai đoạn 1945 - 1975: Hoạt động nghiên cứu bị gián đoạn do chiến tranh, chủ yếu là các ấn bản khảo đính: Tôn Thất Lương khảo chú Hoa tiên (1950); Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản in lại Mai đình mộng ký (1951); Vũ Bằng phê bình và chú thích Mai đình mộng ký (1956); các bản in Hoa tiên của nhà xuất bản Lửa Thiêng và Phổ Thông (1958); nhóm biên soạn Lược truyện các tác gia Việt Nam (1961) giới thiệu Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ; Đào Duy Anh khảo đính và giới thiệu Truyện Hoa tiên (1978).
  • Giai đoạn 1975 đến nay: Các công trình nghiên cứu gia tăng về quy mô và cách tiếp cận:
    • Chuyên khảo và từ điển: Nguyễn Lộc trong Từ điển Văn học (1984); Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (1991); Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX (1994); Thái Kim Đỉnh với Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ (1994); Trần Đình Sử với Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1997); Bùi Duy Tân trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X - XIX; Nguyễn Khắc Thuần trong Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX; Lưu Chí Cường với Nghiên cứu danh tác văn học cổ điển Việt Nam (2021).
    • Nghiên cứu chuyên sâu về dòng văn: Lại Văn Hùng bảo vệ luận án tiến sĩ Khảo sát văn nghiệp dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (1998), xuất bản sách Dòng văn Nguyễn Huy ở Trường Lưu (2000); Trần Thị Băng Thanh và Lại Văn Hùng nghiên cứu trong Tìm hiểu quan niệm và sự hình thành dòng văn trong văn học Việt Nam (2005); Võ Hồng Hải bảo vệ luận án tiến sĩ Di sản văn hóa dòng họ và vấn đề nghiên cứu danh nhân văn hóa, phát triển nhân tài hiện nay (2012); Nguyễn Huy Mỹ chủ biên Các tác giả dòng văn Nguyễn Huy Trường Lưu - Cuộc đời và tác phẩm (2012) và thực hiện các đề tài điều tra, bảo tồn mộc bản, địa chí làng Trường Lưu (2009 - 2018).
  • Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên chuyển hướng từ tiếp cận văn bản học thuần túy hoặc nghiên cứu danh nhân riêng lẻ sang nghiên cứu chỉnh thể di sản văn học dòng văn Trường Lưu từ góc nhìn văn hóa học; đặt tác phẩm trong bối cảnh không gian văn hóa dòng họ, văn hóa làng xã xứ Nghệ, làm rõ sự hợp lưu tạo thành Văn phái Hồng Sơn và đề xuất giải pháp khai thác thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ:
    • Khái niệm văn hóa: Luận án tổng hợp các định nghĩa của Edward B. Tylor (1871), Karl Marx, Friedrich Engels, UNESCO (1970, 2002), Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương, 1938), Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Huyên, Hữu Ngọc (1997), Phan Ngọc (Bản sắc văn hóa Việt Nam), Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa), Biện Minh Điền và Toan Ánh. Văn hóa được định vị là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần chi phối cách ứng xử của cộng đồng.
    • Khái niệm dòng họ và văn hóa dòng họ: Tiếp thu quan điểm của Nguyễn Từ Chi và Võ Hồng Hải để xác định dòng họ là thiết chế xã hội truyền thống, văn hóa dòng họ là sự tích tụ gia phong, gia pháp, truyền thống hiếu học và trước tác khoa bảng.
    • Lý thuyết nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa: Vận dụng quan điểm của Mikhail Bakhtin (không tách rời văn học khỏi toàn bộ bối cảnh văn hóa của thời đại), Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân (đặt hiện tượng văn học vào môi trường văn hóa), Trần Nho Thìn (phục nguyên không gian văn hóa, giải mã hình tượng nghệ thuật từ nền tảng văn hóa lịch sử) và trường phái văn hóa lịch sử của H. Taine (qua giới thiệu của Đỗ Lai Thúy).
    • Khái niệm dòng văn và văn phái: Sử dụng định nghĩa của Trần Thị Băng Thanh và Lại Văn Hùng (dòng văn là văn nghiệp của một dòng họ, có sự truyền nối qua nhiều thế hệ, thống nhất về quan niệm và phong cách); phân biệt với khái niệm văn phái theo giải thích của Ngô Thì Trí, Phan Huy Ích và Biện Minh Điền; kế thừa khái niệm "Hồng Sơn văn phái" do Hoàng Xuân Hãn xác lập năm 1943.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích văn bản tác phẩm và tổng hợp thành các luận điểm khái quát theo từng chương.
    • Phương pháp lịch sử: Đặt dòng văn vào diễn trình lịch sử thế kỷ XVII - XIX, các biến động chính trị Đàng Ngoài - Đàng Trong, khởi nghĩa Tây Sơn và vương triều Nguyễn.
    • Phương pháp so sánh - loại hình: Đối chiếu sáng tác giữa các tác giả trong dòng họ, so sánh dòng văn Trường Lưu với dòng văn Tiên Điền và các trào lưu truyện thơ đương thời.
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học sử với văn hóa học, sử học, địa lý nhân văn, Hán Nôm học và xã hội học.
    • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét di sản văn học Trường Lưu như một hệ thống hoàn chỉnh cấu thành từ các yếu tố gia tộc, địa phương và dân tộc.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Khảo sát trực tiếp các ấn bản văn bản Hán Nôm, bản dịch quốc ngữ, 70 sắc phong lệnh chỉ, 2 bộ gia phả dòng họ (Phượng Dương Nguyễn tông thế phả, Lai Thạch Nguyễn thị gia tàng) và mộc bản tàng trữ tại Trường học Phúc Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 trình bày lịch sử nghiên cứu di sản dòng họ Nguyễn Huy từ các ghi chép văn bia, chính sử thời trung đại đến các chuyên luận hiện đại; chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào văn bản học hoặc tách rời từng tác giả (Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ). Chương này xác lập khung lý thuyết văn hóa học, làm rõ các khái niệm "dòng văn", "văn phái", "văn hóa dòng họ", chứng minh tính phù hợp của việc vận dụng góc nhìn văn hóa để giải mã văn nghiệp của một dòng họ khoa bảng có lịch sử liên tục qua nhiều thế kỷ.

Chương 2: Sự hình thành và quá trình vận động, phát triển của dòng văn Trường Lưu

Chương 2 phục dựng bối cảnh hình thành và tiến trình phát triển của dòng văn Trường Lưu qua các giai đoạn cụ thể:

  • Bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa: Vùng đất Hà Tĩnh với vị trí xung yếu (Hoan Châu, Hoan Diễn), trải qua các biến cố lịch sử từ khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), căn cứ Lục Niên thời Lam Sơn, thời kỳ Nam - Bắc triều đến chiến tranh Trịnh - Nguyễn (giai đoạn 1655 - 1660 tại Hà Tĩnh). Bối cảnh thiên nhiên khắc nghiệt cùng khí chất đôn hậu, trọng lễ giáo, chuộng tiết kiệm, cần cù học tập của người dân xứ Nghệ (theo ghi chép của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Nghệ An ký, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí) là mảnh đất nuôi dưỡng truyền thống văn hóa dòng họ Nguyễn Huy.
  • Quá trình vận động: Dòng văn trải qua 3 thời kỳ: Thời kỳ phôi thai; Thời kỳ phát triển (đỉnh cao với Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Tiến sĩ Nguyễn Huy Quýnh, Nguyễn Huy Tự, gắn liền với sự hoạt động của Phúc Giang Thư viện đào tạo hơn 30 tiến sĩ cùng hàng ngàn môn sinh); Thời kỳ kết thúc (đầu thế kỷ XIX với Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Vinh).
  • Sự hợp lưu tạo nên Văn phái Hồng Sơn: Phân tích mối quan hệ thân tộc, hôn nhân và giao lưu học thuật giữa dòng văn họ Nguyễn Huy (Trường Lưu) và dòng văn họ Nguyễn (Tiên Điền), xác lập luận điểm hai dòng họ này là hai cột trụ hợp lưu tạo thành Văn phái Hồng Sơn danh tiếng trên đất Nghệ Tĩnh.

Chương 3: Một số trường hợp tiêu biểu của di sản văn học dòng văn Trường Lưu

Chương 3 đi sâu khảo sát văn bản học và giá trị nội dung, nghệ thuật của các hiện tượng văn học kết tinh tiêu biểu:

Tác giả Tác phẩm / Hiện tượng Thể loại / Hình thức văn bản Giá trị nội dung và nghệ thuật tiêu biểu
Nguyễn Huy Oánh Phụng sứ Yên Đài tổng ca Thơ ca đi sứ Ghi chép hành trình đi sứ năm 1766 (kéo dài 11 tháng 21 ngày, vượt 1.600 dặm sang Bắc Kinh); phản ánh nhận thức địa lý, phong tục và vị thế quốc gia.
Nguyễn Huy Oánh Hoàng Hoa sứ trình đồ Ký họa, bản đồ, nhật ký hành trình Tác phẩm địa chí - ngoại giao kết hợp bản đồ và thi ca ghi chép tuyến đường sứ bộ; đã được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu Ký ức thế giới.
Nguyễn Huy Tự Hoa tiên Truyện thơ Nôm (thể lục bát) Viết phỏng theo ca bản Đệ bát tài tử Hoa tiên ký của Trung Quốc; phản ánh cảm hứng tự do yêu đương và tài tử - giai nhân; có ảnh hưởng trực tiếp đến ngôn ngữ Truyện Kiều.
Nguyễn Huy Hổ Mai đình mộng ký Truyện thơ Nôm (thể lục bát xen song thất lục bát, 298 câu) Bút pháp tả cảnh diễm lệ, trau chuốt, điêu luyện; thể hiện tâm trạng hoài cổ, cảm thức thời thế và giấc mộng nhân sinh.
Nguyễn Huy Vinh Chung Sơn di thảo Thơ văn chữ Hán Phản ánh tâm tư của tác giả trước cảnh ngộ thế sự, lưu giữ tư liệu lịch sử - văn hóa gia tộc và địa phương.
Dòng họ Nguyễn Huy Nguyễn thị gia tàng Gia phả, tàng thư dòng họ Ghi chép thế thứ, hành trạng danh nhân, văn kiện ban tặng, thơ bang giao, cung cấp tư liệu lịch sử thời Lê - Trịnh.
Dòng họ Nguyễn Huy Mộc bản Trường Lưu Khối mộc bản in sách (Di sản tư liệu UNESCO) Loại hình sách đặc biệt dùng cho giáo dục tại Trường học Phúc Giang; kết tinh giá trị kỹ thuật khắc in, thư pháp và tư tưởng Nho học truyền thống.

Chương 4: Giá trị văn hóa của di sản văn học dòng văn Trường Lưu và hướng tiếp cận, khai thác

Chương 4 đúc kết các tầng giá trị văn hóa và định hướng ứng dụng thực tế:

  • Hệ giá trị văn hóa cốt lõi:
    • Tư tưởng đề cao "đạo học", nỗ lực mở mang giáo dục, đưa tri thức đến với cộng đồng thông qua trường tư thục Phúc Giang và hoạt động khắc in sách.
    • Ý thức sống và hành xử theo "đạo nhân", hướng mọi hoạt động sáng tác và trước thuật vào việc bồi dưỡng nhân cách, lẽ sống cao đẹp.
    • Lòng thủy chung với tiền nhân và ý thức tự giác kiến tạo, bảo tồn, lưu giữ di sản văn hóa gia tộc và dân tộc.
    • Ý thức gắn kết bền chặt giữa văn hóa dòng họ với không gian văn hóa làng Trường Lưu và xứ sở Hồng Lam.
    • Tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức bồi đắp bản sắc văn hóa Việt Nam và thái độ trân trọng nét riêng biệt của phương ngữ, thổ ngơi vùng miền.
  • Hướng tiếp cận và khai thác thực tiễn:
    • Phát huy tinh thần hiếu học, nhân văn của các bậc tiền nhân trong môi trường giáo dục hiện đại.
    • Rút ra bài học kinh nghiệm về quản trị gia phong, xây dựng mô hình "dòng họ văn hóa" trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới hiện nay.
    • Xây dựng phương án bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa đặc thù tại địa phương (kết nối di tích làng Trường Lưu với các di tích văn hóa phụ cận tại Can Lộc, Nghi Xuân).

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu di sản văn học của dòng văn Trường Lưu (Hà Tĩnh) một cách toàn diện và có hệ thống từ góc nhìn văn hóa học. Luận án góp phần cụ thể hóa phương pháp tiếp cận văn hóa học vào một đối tượng mang tính đặc thù là dòng văn của một dòng họ khoa bảng thời trung đại.
  • Về mặt tư liệu và lịch sử văn học: Luận án bao quát, hệ thống hóa diện mạo, bối cảnh sinh thành và tiến trình phát triển của dòng văn họ Nguyễn Huy Trường Lưu qua nhiều thế hệ; phân tích sâu sắc các tác phẩm tiêu biểu như Phụng sứ Yên Đài tổng ca, Hoàng Hoa sứ trình đồ, Hoa tiên, Mai đình mộng ký, Chung Sơn di thảo, Nguyễn thị gia tàng và khối Mộc bản Trường Lưu.
  • Về mặt văn hóa học địa phương: Luận án làm rõ các mối liên hệ mật thiết giữa dòng văn Trường Lưu với dòng văn họ Nguyễn Tiên Điền, minh định cơ sở thực tế của sự hợp lưu giữa hai dòng họ tạo nên Văn phái Hồng Sơn; đồng thời đúc kết hệ giá trị văn hóa bền vững của di sản này.
  • Về mặt thực tiễn ứng dụng: Luận án đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn, khai thác khối di sản văn học - văn hóa Trường Lưu, ứng dụng vào việc xây dựng văn hóa dòng họ đương đại và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa di sản tại Hà Tĩnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn nguồn tư liệu và dung lượng nghiên cứu, luận án chủ yếu khảo sát các văn bản, trước tác đã được phiên âm, dịch nghĩa và công bố; chưa thể khảo cứu cặn kẽ toàn bộ kho tàng thư tịch cổ Hán Nôm chép tay và các mộc bản chưa được dịch thuật hoàn chỉnh hiện còn lưu giữ rải rác trong dòng họ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục giải mã, dịch thuật toàn diện các văn bản Hán Nôm còn lại của các tác giả thứ yếu trong dòng họ Nguyễn Huy.
    • Mở rộng so sánh toàn diện mô hình dòng văn Trường Lưu với các dòng họ văn học khác ở đồng bằng Bắc Bộ (như Ngô gia văn phái) để tìm ra các quy luật chung của hiện tượng dòng họ văn học Việt Nam thời trung đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu khoa học: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam trung đại, văn hóa học, Hán Nôm học, đặc biệt là những ai quan tâm đến loại hình tác gia dòng họ và Văn phái Hồng Sơn.
  • Đối với giảng dạy và đào tạo: Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu văn bản và góc nhìn học thuật hữu ích cho giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học, Văn hóa học, Lịch sử tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội.
  • Đối với công tác quản lý văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa, bảo tồn di sản tại tỉnh Hà Tĩnh trong việc hoạch định chính sách tôn tạo di tích làng Trường Lưu, phát huy giá trị của hai di sản tư liệu thế giới phục vụ phát triển du lịch địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  • 1. Dòng văn Trường Lưu có những di sản nào đã được UNESCO ghi danh? Dòng văn Trường Lưu sở hữu 02 di sản đã được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu Ký ức thế giới: Mộc bản Trường học Phúc Giang (Mộc bản Trường Lưu) và tác phẩm địa chí - ngoại giao Hoàng Hoa sứ trình đồ của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh.
  • 2. Khái niệm "Hồng Sơn văn phái" do ai đề xuất đầu tiên và bản chất của văn phái này là gì? Khái niệm "Hồng Sơn văn phái" được học giả Hoàng Xuân Hãn đề xuất đầu tiên vào năm 1943. Theo luận án, bản chất của văn phái này là sự hợp lưu về không gian địa lý, văn hóa và học thuật giữa hai dòng văn trụ cột dưới chân núi Hồng: dòng văn họ Nguyễn Huy làng Trường Lưu (Can Lộc) và dòng văn họ Nguyễn làng Tiên Điền (Nghi Xuân).
  • 3. Tác phẩm Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự có vị trí như thế nào trong tiến trình truyện thơ Nôm? Hoa tiên là truyện thơ Nôm bác học viết bằng thể lục bát dựa trên ca bản của Trung Quốc, được các danh sĩ như Nguyễn Thiện, Vũ Đãi Vấn, Cao Bá Quát nhuận sắc. Tác phẩm chiếm vị trí quan trọng trong nền văn học Nôm thời Lê trung hưng và có ảnh hưởng sâu sắc về bút pháp, ngôn ngữ đối với Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Đại thi hào Nguyễn Du.
  • 4. Quy mô giáo dục và khoa cử của dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu được ghi nhận ra sao? Dòng họ Nguyễn Huy có hơn 600 năm phát triển, trong phạm vi một làng xã đã có 2 người đỗ đại khoa, 25 người đỗ cử nhân/hương cống, 19 nho sinh, 39 hiệu sinh/sinh đồ/tú tài. Dòng họ lập ra Thư viện Phúc Giang chứa hàng vạn quyển sách, đào tạo hàng ngàn học trò khắp cả nước, trong đó có hơn 30 người cùng đỗ tiến sĩ làm quan đồng triều.
  • 5. Luận án vận dụng lý thuyết nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa dựa trên những luận điểm nền tảng nào? Luận án dựa trên luận điểm của Mikhail Bakhtin về việc không tách rời văn học khỏi toàn bộ bối cảnh văn hóa của thời đại, kết hợp với các định hướng phương pháp luận của Trần Nho Thìn và Phương Lựu: đặt tác phẩm vào môi trường sinh thành, phục nguyên không gian văn hóa dòng họ và làng xã để giải mã hình tượng nghệ thuật và các giá trị tư tưởng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tùng Lĩnh là một công trình nghiên cứu hệ thống, nghiêm túc và toàn diện về di sản văn học của dòng văn Nguyễn Huy Trường Lưu dưới góc độ văn hóa học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa văn bản học, sử học và lý thuyết văn hóa, luận án đã phục dựng sinh động quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu nổi bật của một dòng họ khoa bảng tiêu biểu trên đất Hồng Lam. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ vai trò nòng cốt của dòng văn Trường Lưu trong sự hợp lưu tạo thành Văn phái Hồng Sơn mà còn cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản tư liệu quý giá trong đời sống xã hội đương đại.