mở đầu mỗi tiếng như: Tết tiếc túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế Xuân sang xong sổ số, say sưa sắm sửa sẵn xu xài - Câu đối chơi chữ như Tôi tôi vôi Bác bác trứng - Có những bức đối rất dài, ví như bức đối của ông Quát và ông Siêu: Ông Siêu ra Thôi cũng may, công đăng hỏa có gì đâu, nhẹ nhàng nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy tháng, quan ngoài tám chín niên, nào cờ nào biển, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nào mũ nào đai, nào võng thắm lọng xanh, hèo hoa gươm bạc; mặt tài tình mà gặp hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng phong lưu, mùi thế nếm qua đã đủ. Ông Quát đối Quyết trả phắt, nợ tang bồng không đê vướng, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu giai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, trà chuyên thuốc lá; tay khí vũ mà ngoài vòng cương tỏa, lấy gió nội giăng ngày làm trí thức, tuổi giời thêm đó là hơn. Ngoài ra còn có rất nhiều cách sáng tạo câu đối khác như Tập Kiều, thích ngữ, tục ngữ, ca dao… Qua những ví dụ trên ta có thể thấy ông cha ta đã vận dụng thể loại câu đối vào sáng tác của mình để tạo ra những tác phẩm hết sức độc đáo và sáng tạo. Nó vừa là một trò chơi về mặt ngôn ngữ, vừa là một tác phẩm văn học và là nguồn tư liệu về cuộc sống dân gian lúc bấy giờ.
Cũng vì tính chất trí tuệ và hóc búa của câu đối, luật đối mà lúc người ta chưa thể nghĩ ngay ra vế đối. Hiện nay, cha ông ta còn để lại rất nhiều vế mà thời ấy không ai đối lại được. Lại như giai thoại Trạng Quỳnh và cô Điểm. Cô Điểm ra vế đối: “Da trắng vỗ bì bạch”.
Trạng đã không đối lại được. Câu đối này của cô Điểm, hiện nay trên các diễn đàn về câu đối của Việt Nam hay Trung Quốc đều được xuất hiện như một hiện tượng thú vị của câu đối Việt Nam. Căn cứ lí luận của câu đối: Câu đối không phải chỉ là một trò chơi văn học, cũng không phải là một cái khuôn do con người tạo ra, bản thân nó có một tính triết học rất lớn. Trong nền văn minh Trung Quốc, từ rất sớm đã xuất hiện chủ nghĩa duy vật sơ khai, khái quát hai sự vật, hình tuợng đối lập và thống nhất thành “âm” và “dương”.
Mà “bằng” và “trắc” trong câu đối thực chất là “âm” và “dương” của sự vật khách quan. Chúng tồn tại đối lập nhau, vừa đối lập vừa bổ sung lẫn nhau. Thêm vào thiên biến vạn hóa của nội dung, những bức đối ngắn ngọn hình thành nên thế giới nghệ thuật đa sắc mầu. Sở dĩ câu đối có thể trở thành thế giới ngôn ngữ nho nhỏ có sự đối lập và thống nhất âm dương là vì nó có mối quan hệ không thể tách rời với văn tự và kết cấu ngôn ngữ đặc thù của Trung Quốc.
Văn tự khối vuông của tiếng Hán, kết cấu hài hòa, âm tiết rõ ràng, thanh điệu phong phú, càng dễ làm nên những bức đối với hai vế đối nhau và hình thức đối chuẩn, hài hòa hơn ngôn ngữ của các dân tộc khác. Đồng thời tiếng Hán có đặc điểm bốn thanh, đối trượng tự nhiên, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khiến cho nó có một điều kiện khách quan gọn gàng, cô đọng, tiết tấu chặt chẽ. Văn tự tiếng Hán đều là đơn âm tiết, hơn nữa lại có sự khác nhau giữa bốn thanh âm dương. Dường như mỗi một tự, từ, câu đều có thể tìm thấy một tự, từ, câu đối lập với nó.
Cái “đối lập” ở đây không hoàn toàn chỉ sự đối lập về hàm nghĩa mà còn chỉ sự đối lập về âm điệu, bằng trắc của chúng. Những tự, từ, câu khác nhau kết hợp với nhau căn cứ theo nguyên tắc đối lập thống nhất và “đối lập” âm dương lại tạo nên những hiệu quả kì diệu, đọc lên nghe thuận miệng, vui tai, thu hút sự chú ý của mọi người, rất dễ nhớ dễ thuộc. Đây chính là sức hấp dẫn của nghệ thuật câu đối. Có thể nói, sự đối lập và thống nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là căn cứ lí luận của câu đối và cũng là thực chất của nghệ thuật câu đối.
Câu đối, sở dĩ được coi là một thể loại văn học đặc biệt vì nó giống như một bài thơ ngắn hội tụ đầy đủ những yếu tố nội dung và nghệ thuật cần có của một thể loại văn học. Để khẳng định thêm điều này, xin được trích một phần định nghĩa về “văn học” trong Từ điển văn học. “Văn học là thuật ngữ chỉ một trong số các loại hình nghệ thuật (ngang hàng với các loại hình khác như kiến trúc, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, vũ đạo, nhiếp ảnh, sân khấu, điện ảnh…); ở đây là nghệ thuật của ngôn từ. Lấy chất liệu là các ngôn ngữ tự nhiên của các tộc người sống trên trái đất, dạng thức đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ các sáng tác lời, tồn tại bằng truyền miệng trong các cộng đồng cư dân.
Chỉ khi đã xuất hiện những hệ thống chữ viết (văn tự) tương đối phát triển (được dự đoán là vào thời kì hình thành các thiết chế nhà nước trong việc tổ chức và quản lý xã hội) mới xuất hiện dạng thức thứ hai của nghệ thuật ngôn từ: những sáng tác được ghi chép bằng chữ viết. Văn học theo nghĩa hẹp và xác định, là những sáng tác viết của nghệ thuật ngôn từ. Gắn với các hoạt động sống của con người, ngôn ngữ là một thực tại tư tưởng, đồng thời cũng là một trong các chất liệu và đối tượng của trò chơi. Nghệ thuật ngôn từ do vậy bao hàm những định hướng sáng tạo khác nhau trong phạm vi các khả năng của chất liệu; ở cực này nó thiên về các khuynh hướng và loại hình của tư tưởng; ở cực kia nó thiên về các dạng của trò chơi hình thức, tuy ở cực nào nó cũng không triệt tiêu hoàn toàn các thuộc tính vốn có ở chất liệu.
Các thuộc tính của trò chơi ngôn từ bộc lộ ngay ở sáng tác dân gian, nhất là ở các thể tài chú trọng tạo hiệu quả thẩm mỹ từ việc khai thác các đặc tính ngữ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com âm ngữ, nghĩa của mỗi ngôn ngữ dân tộc.” Câu đối cũng là một loại hình thể hiện rõ nét hai khía cạnh trên của nghệ thuật ngôn từ. Văn học có chức năng phản ánh cuộc sống, biểu lộ cảm xúc, suy tư, thể hiện quan điểm của tác giả trước hiện thực khách quan, hiện thực cuộc sống. Câu đối hoàn toàn có thể đáp ứng được chức năng phản ánh đó. Trên thực tế, có hàng loạt những câu đối thể hiện nỗi niềm riêng tư: cảm khái, tức giận, thương tiếc, châm biếm, lên án…, thể hiện cuộc sống, miêu tả cảnh quan… Câu đối là nghệ thuật sử dụng từ ngữ đầy dụng công và tinh xảo: đối ngẫu, đối trượng, đặc biệt là nhạc điệu toát ra từ những nốt thăng giáng của luật bằng trắc… Hơn nữa, chỉ với hai vế đối nó đã có thể làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh, phản ánh một nội dung tư tưởng hoàn chỉnh của tác giả.
Ngôn từ của câu đối ngắn ngọn, súc tích, vì lẽ đó mà xuất hiện rất nhiều điển cố, điển tích, gợi mở sự liên tưởng, yêu cầu một trình độ uyên thâm ở người thưởng thức. Bởi ngắn gọn, nên ý tứ của câu đối thường được thông qua những điển cố, điển tích, hay những cụm từ mang tính cố định mà đọc lên chúng ta có thể hiểu được những ý tứ sâu xa mà người sáng tác gửi gắm vào trong đó. Điểm đặc biệt của câu đối là ở chỗ, nó có thể đứng riêng thành một tác phẩm độc lập, nhưng lại thường đứng cùng với những bức đối khác trong một quần thể di tích, phản ánh một nội dung nhất định theo từng chủ đề. Ví dụ như câu đối chùa thường ca ngợi cảnh đẹp chốn bồng lai, ca ngợi công đức của các vị Phật, bồ tát… Câu đối ở nhà thờ các dòng họ khác nhau thì thường ca ngợi công tích của tổ tiên, công sinh thành, dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, răn dạy con cháu phải hiếu thuận, biết “ẩm thủy tư nguyên”… Các ngôi đền của Việt Nam cũng vậy, lập nên để thờ ai thì những bức đối ở đó đa phần đều với nội dung ca ngợi công tích, hành trạng… của nhân vật đó.
Như vậy, câu đối có thể phản ánh một nội dung hoàn chỉnh với nghệ thuật điêu luyện, tinh xảo, đọc lên như một bài thơ ngắn với những câu nghe nhịp nhàng, réo rắt giống như thơ cách luật, thơ vần… hơn nữa nó tồn tại khá phổ biến, có cả một đội ngũ sáng tác đông đảo và còn tiếp tục đến tận ngày nay. Với những lí do đó, chúng ta có phần không công bằng, khắt khe khi không xếp câu đối ngang hàng với các thể loại văn học khác. Nghệ thuật của câu đối: Câu đối là một loại hình nghệ thuật đặc hữu của Trung Quốc cũng như của nước ta, trước tiên tiếng Hán đơn âm tiết khiến cho nó có điều kiện thuận 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiện để phát triển; Tiếp theo là Cổ thi Ngũ ngôn, Thất ngôn từ thời Hán Ngụy đã khai nguồn cho cú pháp của câu đối; Từ thời Lục triều đến sơ Đường mà hình thành nên cận thể thi, cung cấp căn cứ về cách luật cho câu đối; Thể biền văn quy củ của thời Lục triều đến thời Đường thì ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn, âm tiết đối xứng, đối chỉnh hơn trước, có bốn chữ và sáu chữ làm nên “Tứ lục văn”, cách điệu cơ bản, lại xuất hiện sự vay mượn trên nhiều phương diện trong việc sáng tác câu đối; vì thế việc xuất hiện câu đối ở thời kỳ Ngũ đại giống như nước chảy thành sông vậy, rất tự nhiên. Tiếp theo đến thời Tồng, Nguyên tiếp tục phát triển, Minh, Thanh lại càng hưng thịnh, đoản cú liên dài loại nào cũng có, thông thường là tác phẩm từ mười chữ trở lên, văn tự dài ngắn xen kẽ, kết cấu tiếp diễn văn hóa, phong phú về nội dung, linh hoạt về hình thức, vượt xa so với thời kỳ đầu của nó.
Việt Nam cũng tiếp nhận được sự ảnh hưởng đó từ Trung Quốc đồng thời còn vận dụng sáng tạo trong sáng tác câu đối bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Đối xứng giữa câu đối và thơ cách luật có quan hệ kế thừa và diễn tiến, cách luật bằng trắc của luật thi cũng dùng trong câu đối.