CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU NVA THYC TH NCUA DE TAL Cơ sở lý luận 1. Khái niệm về kỹ năng. Lâm văn là môn học rất chú trọng tính chất thực hành. Do đó, việc rên luyện kỹ nang (RLKN) lam văn cho học sinh (HS) là một khâu có vai trò quan trọng và cẩn thiết trong quá trình day học.
Trong Tâm lý học, Giáo dục học vấn đề kỹ năng đã được nghiên cứu nhiều, song chưa thống nhất. Có các quan niệm cơ bản như sau: ‘Theo Tir điển Tiếng Việt (1997), Hoàng Phê (chủ biên): “Ky năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”. Cùng quan điểm này, tác giả Trần Bá Hoành viết: “Theo gốc Hán Việt, “kỹ” Ta Kho lớo, “năng” là có thể. Kỹ năng là khả năng vận dụng những tr thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn"[39, tr.
Côvaliôy định nghĩa: "Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động” [70, tr. Tác giả cho rằng kết quả hành đông phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của con người chứ không phải chỉ nắm vững cách thức hành động là có kết quá tương ứng. Lêvitôv lại xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động. Theo tác giả, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động có kết quả.
Tác giả nhẫn mạnh: “Muốn hình thành kỹ năng, con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động vừa phải biết vận dụng lý thuyết đó vào thực tiễn” [70, t. Geoluba khi bàn về kỳ năng cũng chú ý tới mặt kết quả của hành động. Những tác giả này xem kỹ năng là một mặt tạo nên năng lực của con người khi thực hiện một công việc có kết quả trong những điều kiện mới với một khoảng thời gian tương ứng [70, t.15] Lê A quan niệm: "Kỹ năng được hiểu như là khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới dựa trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và một loạt các kỹ xảo trong mối liên hệ mắt thiết lẫn nhau [1] 13 “Trong "Lý luận dạy hoe”, Nguyễn An cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện "hữu hiệu các hành động trên cơ sở tr thức đã có để giải quyết nhiệm vụ đặt ra cho phù hợp với điều kiện cho trước. Kỹ năng gắn với việc nắm vững thủ pháp (cách thức) đúng đắn khi thực hiện hành động.
Đồng thời kỹ năng có khả năng tiến hành những. hành động nhất định không chỉ trong tình huống đã cho mà cả khi thay đổi cí điều kiên ban đầu theo kiểu khác nhau 60, tr. Theo các tác giả Hà Thế Ngữ, Đăng Vũ Hoạt, "Kỳ năng được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức, khái niệm, cách thức, phương pháp. để giải quyết một nhiệm vụ” [60, tr23] “Trên cơ sở những quan điểm trên, chúng tôi đi đến nhận định về kỹ năng một cách khái quát: kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó trên cơ sở vẫn dụng một trí thức, kinh nghiệm một cách phù hợp với điều kiện thực tế.
Do đó, muốn có kỹ năng trước hết ta phải có tri thức về lĩnh vực đó và trực tiếp thực hiện các thao. tie, c hành động và phải luyện tập nhiều lần dé đạt kết quả như mong muốn. Kỹ năng nói chung và các kỹ năng viết đoạn văn nói riêng chỉ có thể hình thành bằng con đường luyện tập, tạo ra các năng lực thực hiện các hành động triển khai viết đoạn văn không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những, điều kiện thay đồi. Theo lý luân dạy học hiện đại, quá trình rèn luyện kỹ năng cho học sinh trải qua nhiều giai đoạn: ~ Giai đoạn l: Đầu tiên là kỹ năng sơ đẳng, làm cho học sinhý thức được mục đích hành động và tìm kiểm cách thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và các kỹ năng, kỹ xâo đã có ~ Giai đoạn 2: Biết cách hành động nhưng chưa đầy đủ, có hiểu biết phương.
thức hành động, sử dụng được cá kỹ xảo nhưng không phải là ác kỹ năng chuyên biệt của hoạt động này. ~ Giai đoạn 3: Có những kỹ năng chung phát triển cao (kỹ năng kế hoạch hoá hoạt động, kỹ năng tổ chức hành đông) nhưng còn mang tính chất riêng lẽ, chưa có sự hối hợp, di chuyển giữa các kỹ năng. - Giai đoạn 4: Có những kỹ năng phát triển cao: học sinh sử dụng vốn hiểu biết và cá kỹ xáo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hoạt động mà cả động cơ, cách thức đạt mục đích. ~ Giai đoạn 5: Có tay nghề: sử dụng một cách sáng tạo các kỹ năng khác nhau, biết phối hợp các kỹ năng khác nhau để tạo ra sản phẩm.
Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liễn với thực tiễn. Nếu chỉ học kỹ năng với những lời chỉ dẫn rất thông thái của người thầy, đại để phải làm thế này, thế kỉa thì sẽ chẳng bao giờ HS có kỹ năng cả mà kỹ năng chỉ có thể hình thành bằng con đường luyện tập một cách có phương pháp, có ý thức. Khái niệm và phân loại văn nghị lận * Khái niệm. ~ Nghị luận (NL) + Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (chủ biên): Nghị luận lả bàn và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó.
+ Trong Từ điển Tiếng Liệt của Văn Tân: Nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái. + Tit dién Ian Việt của GS. Phan Văn Các: Nghĩ luận là bàn bạc. Như vậy, nghị luận là bản bạc cho ra phải tr , danh giá cho thật rõ đúng sai một vấn đề nào đó, ~ Văn nghị luân (thẻ văn dùng lý lẽ phân tích, giải quyết ấn đề) |52, 1.656] Có thể khái quát rằng, văn nghị luân: Là loại văn xuôi trong đó người viết (người nói) sử dụng lý luận, bao gồm lý lẽ dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đề nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo nhữngý kiến đó.
* Phân loại văn nghị luận Nhìn từ để tài, có thể chia nghị luận thành hai loại lớn: đó là nghị luận văn. học và nghị luận xã hội. ~ Nghị luận văn học: là những bài văn bàn về các vấn để văn chương- nghệ thuật: phân tích, bàn luận về vẻ đẹp của tác phẩm văn học; trao đổi về một vấn đẻ lý luận văn học hoặc làm sáng tö một nhận định văn học sử. Như Nguyễn Đăng Mạnh và Đỗ Ngọc Thống khẳng định “đối tượng của bải nghị luận văn học dứt khoát phải là các vấn để văn học bao gồm các vẫn đề vẻ tác phẩm, tác gid, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn học, những vấn để vẻ bản chất, quy luật, chức năng và nhiệm vụ của văn học.
18] Cho nén, NLVH có đối tượng hết sức phong phú và đa dạng, đó là tắt cả các sự kiên và vấn để thuộc lĩnh vực văn học. ~ Nghị luận xã hội: là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội — chính trị như: một tư tưởng đạo lý; lối sống cao đẹp; hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống; vấn đề về thiên nhiên môi trường; Tuy nhiên, văn nghị luân văn học và văn nghị luân xã hội có nhiều điểm tương đồng. Hai thể loại văn học này đều phải sử dụng thành thục các thao tác: chứng minh, giải thích, bình luận, bác bỏ, so sánh, phân tích, bình giảng. về một vấn đề văn học hay xã hội.
Đặc điễm của văn nghĩ luận và nghị luận văn học Một bài văn nghị luận và nghị luận văn học được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (cỏn gọi là luận đè), luận điểm, luận cứ vẻ lập luận. (còn gọi là luận chứng) Luận đề được xác định là: "phạm vĩ bàn luận” [76, tr 5], hoặc "vẫn đễ trung tâm cốt lõi" [32 t.140], hoặc "vấn để bao quát toàn bài nại luận” [61, tr. Như vậy, luận để được hiểu là vẫn đề bản luận của toàn bài nghị luận; nó hiện lên như là một phán đoán có tính chất khái quát nhất, bao trùm nhất, chỉ phổi sự nghị luận toàn bài Chỉnh vì thế trong nhiều bài nghị luận nói chung vả nghị luận văn học nói riêng, luận đề thể hiện ngay từ nhan để của bài viết. Chẳng han trong bai: Ban về ; Tỉnh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh); ính giản dị của Bác Hồ (Phạm ‘Van Ding); Ý nghĩa văn chương (Hoài Thanh), Luận điểm (còn gọi là ý lớn) làý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm được nêu trong văn bản.
“Luận điễm la link hin của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối. Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục”[15, tr. 'Trong một bài văn nghị luận có nhiều luận điểm mở rộng thì “các luận điểm. trong một bài văn vừa cần liên kết chặt chẽ lại vừa có sự phan biệt với nhau, các luận điểm phải được sắp.
ếp theo một trật tự hợp lí: luận điểm nêu trước chuẩn bị cơ sở cho luận điểm nêu sau"{16] Muốn cho luận điểm đó được xác lập, thừa nhân, người ta còn phải tiến hành lập luận - tức là bản thân nó phải được làm sáng tỏ. Để làm sáng tỏ luận điểm người 16 ta không thể không cẩn tới các luận cứ, bởi vì nó là cơ sở, chỗ dựa để chứng minh cho luận điểm. Luận cứ là một thành phần không thể thiếu của luận điểm. * Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm " |15, T2].
Luân cứ phải xác thực, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục. Một đặc điểm nữa của văn nghỉ luận là fđp đun (luận chứng). Lập luận tức là biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu vấn đẻ và giải quyết vẫn đề; biết dùng những lý lẽ và dẫn chứng đễ lam sáng tỏ đều mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Có thể nói luận điểm là nội dung còn lập luận là hình thức diễn đạt nội dung, Nghệ thuật lập luận phụ thuộc rất nhiều vào cách nêu vấn đề, cách din dit người đọc, người nghe, cách phân tích bằng nhiều thủ pháp nhỏ như so sánh, liên hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng thực tế, đưa số liệu thống kê.Tuyên ngôn Độc lập.