Đặt vấn đề Ô nhiễm nguồn nước do xả nước thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà không qua xử lý ngày càng trở trầm trọng và là một trong những vấn đề bức xúc và quan tâm hàng đầu hiện nay của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TP. Đặc biệt TP.HCM là một trong những đô thị có tốc độ gia tăng dân số cao, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng nhưng thiếu sự nhận thức của cộng đồng, do đó vấn đề nước thải trở nên nghiêm trọng hơn. Xử lý nước thải là quan trọng đối với môi trường sống và sức khỏe của con người vì nó giúp giảm sự lây truyền các bệnh liên quan đến chất lượng nước, cũng như giảm ô nhiễm nước và hậu quả cuối cùng là thiệt hại cho hệ sinh thái. Xử lý nước thải đô thị là một cần thiết, tuy nhiên chi phí đầu tư cần thiết của các dự án xử lý nước thải gấp hai, ba lần chi phí cho các dự án cấp nước [1].
Do đó, các công cụ tài chính là mục tiêu quan trọng và quan tâm hàng đầu của chính quyền thành phố để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Điển hình, trong số 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững sẽ đạt được vào năm 2030, tại mục 6.3 chỉ ra các mục tiêu trong đó cải thiện chất lượng nước, tăng cường sử dụng nước và khả năng chi trả được đề cập. Để đạt được SDG6 đòi hỏi một tập hợp các hoạt động trong đó huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào ngành nước là một trong những hoạt động đó [2]. Về tình hình sử dụng nước, tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận dịch vụ thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tăng từ 10% năm 2010 lên 20% vào năm 2015, trong khi đó giá các dịch vụ nước thải tại Việt Nam được đánh giá là tương đối thấp so với toàn bộ chi phí của dịch vụ, để có được dịch vụ tốt hơn cần có những biện pháp để cải thiện nguồn tài chính [3].
1 Trong thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong quá trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng dân số nhanh đã tạo ra những áp lực lên môi trường nói chung và hệ thống kênh, sông, rạch do nước thải chưa qua xử lý xả thải nói riêng [4] trong khi đó hệ thống cơ sở hạ tầng thoát nước được xây dựng phần lớn từ thời Pháp thuộc. Đặc biệt trong mùa mưa vấn đề này càng trở nên khó khăn hơn khi nước mưa, lũ lụt do nước thải tràn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, môi trường và phát triển kinh tế xã hội và mỹ quan đô thị. Trước những vấn đề trên Chính phủ đã quy hoạch TP.HCM tại các Quyết định số 752/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2001 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.
Để thực hiện quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước mưa và nước thải TP.HCM đến 2020, cần tổng vốn đầu tư khoảng 40.380 tỷ Việt Nam đồng và Quyết định 24/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2010 về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP.HCM đến năm 2025, Thành phố có quy mô dân số trên 10 triệu người, tổng lượng nước thải ước tính từ 3,15–3,2 triệu/ngày với tổng cộng 12 nhà máy xử lý nước thải tập trung, còn theo Quyết định 1942/2014/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2014 phê duyệt Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công nghiệp thuộc lưu vực sông Đồng Nai đến năm 2030 TP.HCM có 11 nhà máy nếu gộp chung giữa Nhiêu Lộc-Thị Nghè và Đông Sài Gòn, đồng thời thành phố đã đặt ra cho mình mục tiêu vào năm 2025 xử lý 80% tổng lượng nước thải sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình [5]. Tuy nhiên, vẫn còn tồn đọng lớn nhu cầu đầu tư chưa đáp ứng so với quy hoạch. Hai thách thức lớn được đặt ra: (i) Khía cạnh tài chính: Hiện nay, phí nước thải vẫn còn quá thấp để xây dựng, phục hồi hoạt động và chi phí bảo trì hoặc nâng cấp hệ thống. Hiện nay, phần lớn nguồn chi phí này phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
Do đó, tính bền vững tài chính của các dự án sinh sau khi xây dựng vẫn là một mối quan tâm lớn chính quyền hiện nay. 2 (ii) Về khía cạnh xã hội: thiếu nhận thức của cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng vào các dự án môi trường, do đó ít nhiệt tình hơn đối với việc trả phí từ công chúng. Về mặt tài chính, hiện tại chỉ có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, được thu 10% của giá nước cho tất cả các khách hàng (từ ngày 01 tháng 01 năm 2004). Nguồn thu phí bảo vệ môi trường chỉ đủ đáp ứng khoảng 50% chi phí vận hành, bảo dưỡng cho hệ thống thu gom không bao gồm chi phí đầu tư xây dựng của các nhà máy xử lý nước thải.
Tuy nhiên, nguồn thu này còn khá thấp để trang trải chi phí trên và thường được trợ cấp bằng ngân sách thành phố. Tuy nhiên, với mục tiêu hoàn thành cơ sở hạ tầng trong thời gian tới, cũng như đầu tư các nhà máy XLNT, và đảm bảo tính bền vững về tài chính cho chi phí dịch vụ thoát nước, đòi hỏi chính quyền phải tăng phí nước thải bằng cách ban hành biểu giá nước thải cũng như chuẩn bị lộ trình tăng doanh thu để thu hồi toàn bộ chi phí trong tương lai. Điều này phù hợp với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Do đó, đề tài “Đánh giá hoạt động hệ thống thu và xử lý nước thải sinh hoạt nhằm đề xuất phương án thu phí nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM” là thiết thực.
Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu Xây dựng lộ trình thu phí nước thải sinh hoạt định hướng đến năm 2030 nguồn thu phí này đảm bảo đủ chi phí công tác duy tu hệ thống thoát nước và vận hành các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.2 Nội dung nghiên cứu Những nội dung nghiên cứu của đề tài như sau: - Đánh giá hiện trạng hệ thống thu (hệ thống thoát nước) và xử lý nước thải của TP. 3 - Phân tích chi phí dùng duy tu hệ thống thoát nước và vận hành nhà máy XLNT. - Trên cở sở đề án chống ngập và XLNT thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020- 2045 và kế hoạch chống ngập và XLNT giai đoạn 2020-2030 và chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2020-2030, đề tài xây dựng 03 kịch bản tương ứng với 3 lộ trình thu phí xử lý nước thải sinh hoạt. - Khảo sát tỷ lệ đồng thuận của dân đối với mức thu phí xử lý nước thải sinh hoạt/phí dịch vụ thoát nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Hệ thống thoát nước cấp 1, 2, các nhà máy xử lý nước thải và nguồn thu để duy tu, vận hành bảo trì bảo dưỡng hệ thống thoát nước và các nhà máy xử lý nước thải đang vận hành.2 Phạm vi nghiên cứu ❖ Không gian Hệ thống thoát nước và nhà máy xử lý nước thải tại Tp. ❖ Thời gian Số liệu phục vụ nghiên cứu: - Số liệu chi phí duy tu hệ thống thoát nước và vận hành nhà máy XLNT giai đoạn 2017 - 2020. - Số liệu về nguồn thu phí bảo vệ môi trường giai đoạn 2017 - 2020. - Xây dựng kế hoạch trung hạn 10 năm từ 2021 đến năm 2030.
Quy mô: 4 Khảo sát tỷ lệ đồng thuận của dân đối với mức thu phí xử lý nước thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố đề tài dự kiến sẽ thực hiện 219 phiếu khảo sát ngẫu nhiên về tỷ lệ đồng thuận của cộng đồng đối với 3 lộ trình thu phí xử lý nước thải sinh hoạt. Hệ thống thoát nước và chi phí vận hành các trạm và nhà máy XLNT sinh hoạt đang hoạt động. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài “Đánh giá hoạt động hệ thống thu và xử lý nước thải sinh hoạt nhằm đề xuất phương án thu phí nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM” cung cấp bộ số liệu cập nhật về hiện trạng thu và xử lý nước thải tại TP.HCM làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời, đề tài cũng cung cấp thông tin về các phương án thu phí xử lý nước thải trên địa bàn TP.HCM hiện nay cho các nghiên cứu về kinh tế môi trường.2 Ý nghĩa thực tiễn Chi phí đầu tư cho các chương trình về nước thải đô thị ban đầu lớn và cần nhiều vốn, nhưng lợi ích kinh tế tích lũy từ các khoản đầu tư này thuộc khía cạnh cải thiện sức khỏe cộng đồng, cũng như bảo đảm chất lượng nước mặt và nước ngầm tốt hơn, điều này chủ yếu có lợi cho các thế hệ tương lai.
Để đáp ứng được nguồn kinh phí cho vấn đề này, ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách, các tổ chức phi chính phủ thì nguồn kinh phí từ thu phí xử lý nước thải là rất cần thiết. Do đó, đề tài “Đánh giá hoạt động hệ thống thu và xử lý nước thải sinh hoạt nhằm đề xuất phương án thu phí nước thải sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM” phần nào đáp ứng nhu cầu thực tiễn nêu trên. Đề tài còn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý ngành, đơn vị quản lý vận hành về nguồn kinh phí có thể bổ sung vào quá trình duy tu hệ thống thoát nước và vận hành nhà máy xử lý nước thải hiện nay, đặc biệt là Trung tâm Quản lý Hạ tầng kỹ thuật TP.HCM – Sở Xây dựng TP. 5 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về khu vực nghiên cứu TP.HCM là một trong hai thành phố lớn nhất tại Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam.
Hiện nay, TP.HCM là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, TP.HCM ngày nay có 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2. Theo kết quả điều tra dân số năm 2019 dân số của toàn thành phố là 8.082 người, thành thị 7.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn 1.718 người (chiếm 20,75%), mật độ 4.292 người/km2. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, TP.