mở đầu và kết thúc gây ấn tượng; sử dụng các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục: chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy đủ. + Viết được văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học hoặc một bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng; nêu và nhận xét về nội dung, một số nét nghệ thuật đặc sắc. 14 + Viết được bài thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận. + Viết được báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội; biết sử dụng các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; biết trích dẫn, cước chú, lập danh mục tài liệu tham khảo và sử dụng các phương tiện hỗ trợ phù hợp.
Tuy nhiên trên thực tế TLVB là một tiến trình tư duy phức tạp, không theo một đường thẳng, gồm nhiều giai đoạn. Việc chia quá trình TLVB thành các giai đoạn trước, trong và sau khi viết chỉ mang tính tương đối. Thực tế cho thấy việc hoạt hóa tri thức nền không chỉ diễn ra ở giai đoạn trước khi viết mà có thể xuất hiện trong khi viết (ý mới lóe sáng) hay sau khi viết để điều chỉnh lại VB. Cũng như không phải sau khi viết xong VB người viết mới kiểm tra, chỉnh sửa mà việc viết, kiểm tra, chỉnh sửa được lặp lại, đan xen ở từng đơn vị VB trong tiến trình TLVB.
Trong chương trình THPT có 2 dạng nghị luận là nghi luận xã hội và nghị luận văn học. Hai thể loại nghị luận này có điểm tương đồng và khác biệt, HS cần nắm chắc để tránh nhầm lẫn khi viết bài Đặc điểm Văn bản nghị luận xã hội Văn bản nghị luận văn học - Thuộc thể văn nghị luận, viết nhằm thuyết phục người đọc về ý kiến, quan điểm của người viết. Sự tương đồng - Có yếu tố cơ bản là ý kiến, lí lẽ, bằng chứng. Lí lẽ và bằng chứng cần thuyết phục, làm sáng tỏ ý kiến; cần được sắp xếp theo trình tự hợp lí.
- Đề tài về lĩnh vực đời sống: - Đề tài về văn học: Đối tượng Đối tượng là các vấn đề xã hội, là các tác phẩm văn học hiện tượng đời sống, các vấn đề (truyện, thơ, kịch), các vấn đề tư tưởng, đạo lý,. Ví dụ: vấn lý luận văn học, hoặc các nhà Sự khác biệt đề ô nhiễm môi trường, bạo lực văn, nhà thơ. Ví dụ: phân tích học đường, ý nghĩa của tình yêu nhân vật Chí Phèo trong "Chí thương,. Phèo" của Nam Cao, giá trị nghệ thuật của bài thơ "Ánh 15 trăng" của Nguyễn Duy,.
-Mục đích: phân tích, đánh giá, Mục đích: làm rõ giá trị nội bàn luận về các vấn đề xã hội, dung và nghệ thuật của tác đưa ra những nhận xét, đánh phẩm, khám phá thế giới quan, giá, và gợi mở những giải pháp. nhân sinh quan của tác giả, đồng thời liên hệ với cuộc sống. Cách thức trình bày: Cách thức trình bày: - Dẫn chứng: Thường sử dụng - Dẫn chứng: Dẫn chứng trực các số liệu thống kê, sự kiện xã tiếp từ tác phẩm (đoạn trích, hội, câu nói của người nổi câu thơ, hình ảnh,. để làm sáng tỏ vấn đề.
tích chi tiết các yếu tố nghệ thuật. - Lập luận: Dựa trên các lý lẽ - Lập luận: Kết hợp giữa chặt chẽ, logic để thuyết phục phân tích, bình luận và đánh người đọc. - Ngôn ngữ: Ngôn ngữ thường - Ngôn ngữ: Ngôn ngữ giàu trực tiếp, rõ ràng, dễ hiểu. hình ảnh, biểu cảm, có tính nghệ thuật cao 1.
Khái niệm Khi đối mặt với những vấn đề xã hội, đạo đức, khoa học,. con người cần phải phân tích, đánh giá để tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp. Nghị luận chính là công cụ hữu hiệu để thực hiện điều này. Bên cạnh đó mỗi người đều có những suy nghĩ, quan điểm riêng về cuộc sống.
Nghị luận là một cách để chúng ta thể hiện quan điểm của mình, thuyết phục người khác đồng tình hoặc đưa ra những góc nhìn khác nhau. Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống: “Nghị luận là dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, 16 đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bản về đúng, sai, phải, trái khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người đọc nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình.
Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tỉnh cảm, có tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh.45] Như vậy có thể thấy văn nghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,. nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan niệm, một vấn đề nào đó. Nó nhằm tác động vào trí tuệ, vào lí trí của người đọc.
Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích của diễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quá trình tư duy để đạt đến việc nhận thức chân lí. Để viết được một bài nghị luận văn học có sức thuyết phục người đọc thì đòi hỏi người viết phải sở hữu một tư duy lập luận tốt, đủ để chứng minh cho những luận điểm mà mình đưa ra. Với việc có thể đưa ra được những luận điểm có thể chứng minh cho quan điểm của người viết, người viết sẽ có cho mình cái nhìn đa chiều hơn về các tác phẩm văn học nói riêng hay những giá trị trong đời sống xã hội thiết thực từ các phẩm văn học đó nêu ra nói chung. Đề tài của văn bản nghị luận rất rộng, bao gồm mọi vấn đề của đời sống như chính trị, xã hội, đạo đức, … 1.
Phân loại Căn cứ vào nội dung nghị luận thì văn nghị luận được chia thành ba loại là nghị luận xã hội và nghị luận VH. Theo đó NLVH được hiểu là NL về một vấn đề liên quan đến VH như: tác phẩm, tác giả, một giai đoạn, khuynh hướng VH,. NLVH có thể được phân loại như sau: - NL về một tác phẩm VH: + NL về một tác phẩm hoặc một đoạn thơ/ văn xuôi. + NL về một hình tượng, một nhân vật, một tâm trạng.
+ NL về một vấn đề liên quan đến nội dung hoặc nghệ thuật của một phẩm cụ thể. 17 + NL so sánh hai hay nhiều tác giả, tác phẩm, nhân vật về một phương diện nào đó. - NL về một một vấn đề VH sử. + NL về một nền VH.
+ NL về một giai đoạn VH. + NL về một khuynh hướng/ trào lưu VH. + NL về một tác gia VH. - NL về một vấn đề lý luận VH + NL về một vấn đề khái quát lí luận văn học thông qua ý kiến/ nhận định của một nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình.
+ NL về một một vấn đề cụ thể hay một khái niệm lí luận văn học. Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi nghiên cứu sâu về nghị luận về một phẩm văn học. Nghị luận văn học 1. Khái niệm Nghị luận văn học là một dạng bài viết trong đó người viết đưa ra những nhận xét, đánh giá, phân tích và bình luận về một tác phẩm văn học hoặc một vấn đề văn học.
Mục đích của nghị luận văn học là giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, tác giả, cũng như những giá trị nội dung và nghệ thuật mà tác phẩm mang lại. Phân loại NLVH - Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn học: Đây là dạng bài phổ biến, yêu cầu người viết phân tích, đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm hay đoạn trích văn học cụ thể (ví dụ: một bài thơ, một truyện ngắn, một tiểu thuyết, đoạn thơ, đọa trích…). - Nghị luận so sánh hai nhiều tác giả, tác phẩm, nhân vật về một phương diện nào đó: Dạng bài này yêu cầu người viết so sánh hai nhiều tác giả, tác phẩm, nhân vật khác nhau để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng, chủ đề. + Nghị luận về một khía cạnh của tác phẩm văn học: Dạng bài này tập trung vào phân tích, đánh giá một khía cạnh cụ thể của tác phẩm, như: giá trị nhân đạo, 18 giá trị hiện thực, đặc điểm của nhân vật, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ thơ, một hình tượng, một nhân vật, một tâm trạng.
- Nghị luận về một vấn đề lý luận văn học: Dạng bài này yêu cầu người viết bàn luận về một vấn đề lý luận văn học, như: vai trò của văn học trong đời sống, mối quan hệ giữa văn học và lịch sử, các khuynh hướng văn học. - Nghị luận về một vấn đề đặt ra từ tác phẩm văn học: Dạng bài này yêu cầu người viết bàn luận về một vấn đề được gợi ra từ tác phẩm văn học, như: vấn đề nhân sinh, vấn đề xã hội, vấn đề đạo đức. - Nghị luận về một trào lưu văn học: Dạng bài này yêu cầu người viết phân tích, đánh giá một trào lưu văn học, như: trào lưu lãng mạn, trào lưu hiện thực. - Nghị luận về một tác giả văn học: Phân tích, đánh giá sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của một tác giả văn học.
- Nghị luận về một tác phẩm văn học dưới góc nhìn lý thuyết: Phân tích, đánh giá tác phẩm văn học dựa trên một lý thuyết văn học cụ thể (ví dụ: lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết cấu trúc luận. Các yếu tố chính của văn bản nghị luận văn học - Luận đề: Là vấn đề, tư tưởng, quan điểm, quan niệm,…được tập trung bàn luận trong văn bản. Thường được nêu ở nhan đề hoặc phần mở đầu của bài viết. - Luận điểm: Là một ý kiến khái quát thể hiện tư tưởng, quan điểm, quan niệm của tác giả về luận đề.
Thường được trình bày bằng một câu khái quát và được làm sáng tỏ bởi lí lẽ và dẫn chứng. - Luận cứ: + Lí lẽ: Nảy sinh nhờ suy luận logic; được dùng để giải thích và triển khai luận điểm, giúp luận điểm trở nên sáng tỏ. + Dẫn chứng: Là những căn cứ cụ thể, sinh động được khai thác từ thực tiễn hoặc từ các tài liệu sách báo. Xác nhận tính đúng đắn, hợp lý của lí lẽ.
- Phương pháp lập luận: Không thể có lập luận thuyết phục và chặt chẽ nếu người lập luận không có ý thức áp dụng các phương pháp lập luận hợp lí.