chương I đến XXIV cộng thêm một vài mặt hàng nằm trong những chương khác của Hệ Thống thuế mã HS (Hệ thống hài hoà mã số thuế)”. Thông qua định nghĩa, nông sản gồm: - Các sản phẩm phái sinh: bơ, dầu ăn,. - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: gạo, sữa, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi.; - Các sản phẩm chế biến từ nông sản: sản phẩm từ sữa, xúc xích từ thịt, các loại nước giải khát,. Từ các quan điểm trên có thể kết luận: “Nông sản là sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trồng, vật nuôi (không bao gồm lâm, thủy sån)”.
Đặc điểm của mặt hàng nông sản Thứ nhất, Tính tập trung ở vùng nông thôn: Qúa trình SXNS chủ yếu ở những vùng nông thôn, nơi có thổ nhưỡng thuận lợi và thời tiết thích hợp đến việc trồng trọt và chăn nuôi. Thứ hai, Phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và thời tiết: Môi trường tự nhiên và điều kiện thời tiết động chạm tới sinh sôi và phát triển cây trồng. Thời tiết không chỉ ảnh hưởng đến việc cung cấp nước và dưỡng chất cây trồng mà còn có thể sinh ra mầm bệnh và thiên tai. Các yếu tố như đất đai, độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng mặt trời cũng bóp méo chất lượng và sản lượng của nông sản.
Thứ ba, Tính đa dạng của nông sản: Các yếu tố như đất đai, địa lý, và phương pháp canh tác khác nhau dẫn đến sự đa dạng của nông sản. Một loại cây trồng có thể có nhiều biến thể và chủng loại khác nhau tùy thuộc vào điều kiện môi trường và phương pháp trồng trọt. Ví dụ, cùng là loại cam nhưng khi cam trồng ở các vùng khác nhau có thể có hình dáng, màu sắc và hương vị khác nhau, phản ánh sự đa dạng đó. Thứ tư, Tính thời vụ của nông sản: Mỗi loại cây trồng có thể có mùa vụ khác nhau, dẫn đến các thời kỳ sản xuất khác nhau trong năm.
Thời điểm chính vụ thường có lượng thu hoạch nhiều và dồi dào về chủng loại, giá cả phải chăng. Ngược lại là, vào thời kỳ trái vụ, cung cấp nông sản thường sang trái theo mô hình, khan hiếm và giá tăng cao. Thứ năm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng: Chất lượng của nông sản ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Với sự cải thiện của đời sống và nhận thức về dinh dưỡng, người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến ATTP.
Điều này thúc đẩy các tiêu chuẩn chất lượng và ATTP cao hơn trong quá trình sản xuất nông sản, đặc biệt là trong các quốc gia có nền kinh tế phát triển, hiện đại như Nhật Bản. Tóm lại, mỗi quốc gia sẽ đối mặt với các điều kiện địa lý, thời tiết, và tài nguyên tự nhiên riêng biệt trong việc phát triển loại nông sản cụ thể. Trên con đường hội nhập ngày nay, việc này đặt ra thách thức lớn, yêu cầu mỗi quốc gia cần phải phát 9 triển các chiến lược, tận dụng ưu điểm tự nhiên để tạo ra các lợi thế cạnh tranh trong môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản đối với quốc gia Trong phần này, khóa luận nghiên cứu về các yếu tố tác động đến XKNS khi xuất khẩu sang nhà nhập khẩu qua những nội dung dưới đây.
Các nhân tố quốc tế Biến động thị trường XKNS: Cung và cầu cảu thị trường là tác nhân gây nên chuyển dịch thị trường tiêu thụ. Cung cao có thể dễ tới KNXK không đạt được ky vọng, ngược lại nếu cung thấp sẽ dẫn đến mất cân bằng giữa cung và cầu, từ đó khiến KNXK đạt cao hơn. Đứng dưới góc nhìn của nhà XKNS, cung – cầu là tác nhân khó kiểm soát, cũng như khó chịu sự chi phối của cá nahan doanh nghiệp bất kỳ nào. Ngoài ra, vì chịu sự nắn chỉnh lớn từ thời tiết – yếu tố khó kiểm soát trong SXNS nên cung XKNS thường bấp bênh.
Theo quy luật E.Engel, mức tiêu thụ nông sản thiết yếu tăng ít hơn so với mức tăng thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến cầu. Quy luật này có thể kiểm định dễ dàng ở những nước đang hoặc kém phát triển. Không chỉ vậy, còn có nhiều nghiên cứu về quy luật Engel ở các nước phát triển như Anh, Úc… và cũng cho kết quả tương tự khi mức tăng nhu cầu lương thực, thực phẩm tăng chậm hơn mức tăng thu nhập. Sự dựa dẫm lẫn nhau của các Liên minh Kinh tế: Sự dựa dẫm lẫn nhau của các quốc gia ngày càng tăng tiến do quá trình toàn cầu, đặc biệt trong việc giao thương.
Khi XKNS sang nước khác, nhà XKNS phải đối mặt với SPS, TBT. Mức độ hời hợt hay cẩn mật của SPS, TBT nương tựa vào quan hệ giữa hai nước. Ngày nay, đã và đang hình thành nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương ký kết với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia tham gia vào liên minh hoặc kỹ hiệp định thương mại thì sẽ có nhiều thuận lợi trong hoạt động xuất khẩu của mình.
Ngược lại, đó chính là rào cản đối với việc thâm nhập vào thị trường khu vực đó. Dịch bệnh, chiến tranh và an ninh lương thực: Đại dịch động chạm đến khâu sau SXNS trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu khi các doanh nghiệp sản xuất, 10 chế biến gặp những thách thức tiếp cận thị trường: từ việc đóng cửa biên giới, phong tỏa cảng biển, tăng cường kiểm dịch đối với hàng hóa. Thêm vào đó, việc thiếu hụt nguồn nhân lực trong các khâu sau thu hoạch, bao gồm cả sơ chế, cất trữ, chế biến và vận chuyển nông sản vì phải tuân thủ các quy định kiểm soát dịch bệnh làm gia tăng chi phí, đặc biệt là trong các hoạt động logistics. Dịch bệnh, điển hình như đại dịch COVID-19 làm suy giảm nhu cầu và thay đổi xu hướng tiêu dùng nông sản của người dân An ninh lương thực toàn cầu đang là mối quan tâm của toàn thế giới khi những vấn đề này ngày càng gia tăng.
Báo cáo “Hiện trạng an ninh lương thực và dinh dưỡng thế giới năm 2022” của FAO đã báo cáo rằng 702 - 828 triệu người phải đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực trầm trọng vào năm 2021, nhiều hơn gần 150 triệu so với thời kỳ trước đại dịch. Trong kịch bản tăng trưởng dân số ngày càng tăng và tuổi thọ trung bình tăng, việc xuất - nhập khẩu nhiều nông sản hơn đảm bảo ATTP là điều kiện cần thiết. Ngoài ra, các xung đột như chiến tranh ảnh hưởng đến XKNS do suy thoái môi trường, thay đổi giá cả, các chính sách xuất- nhập khẩu để đối phó với chiến tranh và biện pháp trừng phạt thương mại. Chiến tranh ảnh hưởng trung tiếp đến nguồn XKNS, khi nhiều quốc gia bắt đầu dự trữ những nông sản cần thiết như lúa gạo, lúa mì.
Sự kết hợp giữa an ninh lương thực và dịch bệnh và chiến tranh ngày càng gia tăng mang đến những mối đe dọa nghiêm trọng hơn cho XKNS. Các tiêu chuẩn tự nguyện: Khi các rào cản tiếp cận thị trường truyền thống đã bớt ở nhiều nước thì ngày càng chuyển sang các biện pháp quản lý khác làm rào cản thương mại. Việc không tuân thủ các tiêu chuẩn tự nguyện có thể dẫn đến doanh nghiệp ra khỏi chuỗi cung ứng nông sản. Những tiêu chuẩn tự nguyện có tác dụng rõ ràng đối với các nước đang phát triển.
Mặt khác, tiêu chuẩn tự nguyện là chất nâng cấp sản xuất khi các nhà xuất khẩu nâng cao các kỹ thuật cần thiết, từ đó thay đổi cấu trúc chuỗi giá trị bằng cách chuyển đổi sản phẩm sang thị trường có nhu cầu cao hơn. Các nhân tố quốc gia Tập quán, thói quen tiêu dùng của nước nhập khẩu: Tập quán, thói quen tiêu dùng ảnh hưởng đến đến nhu cầu, loại thực phẩm được tiêu thụ và cách thức tiêu thụ và chiến lược tiếp thị. Bởi sự khác biệt trong tập quán và thói quen tiêu dùng nên những nước nhập khẩu có các quy định về an toàn và chất lượng nông sản khác nhau. Xu hướng và độ nhạy cảm về môi trường và xã hội cũng được quan tâm khác nhau.
Tập quán và thói quen tiêu dùng của nước nhập khẩu có ảnh hưởng đa dạng đến XKNS, đòi hỏi không ngừng nghiên cứu và thích ứng với mỗi thị trường cụ thể. Khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật của nước xuất khẩu: Với sự nở rộ công nghệ, thị trường SXNS và XKNS ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ để thích nghi nhu cầu nề SXNS. Ứng dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sinh trưởng năng suất, khuếch trương chất lượng. Nhân tố về ĐKTN cho XKNS: XKNS nhìn tổng quan chịu sự uốn nắn từ những ĐKTN như thổ nhưỡng, thiên tai… Vậy nên, rất khó đoán được mức độ rủi ro của XKNS, thậm chí có thể dự đoán nhưng cũng không tránh được những tác động xấu từ tác nhân này.
Cơ sở hạ tầng XKNS: Đây là tác nhân có biến thiên cùng chiều với hoạt động XKNS, đặc biệt là tác nhân từ hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển. Vì thế, hạ tầng phát triển và hiện đại sẽ hỗ trợ việc xuất khẩu hàng hóa nói chung và nông sản cụ thể diễn ra một cách thuận tiện và dễ dàng hơn. Cơ chế chính sách của Chính Phủ: Những chính sách phù hợp sẽ đẩy mạnh quá trình SXNS và XKNS, từ đó tăng cường sức cạnh tranh của XKNS trên thị trường toàn cầu. Việc khuếch trương thị trường để tăng sức cạnh tranh là then chốt với việc XKNS và khẳnh địng vị trí SKNS.
Chính sách này ảnh hưởng trực tiếp đến việc XKNS. Tổng quan về Hiệp định EVFTA và một số quy định liên quan đến xuất khẩu nông sản Việt Nam sang EU 1. Khái quát về Hiệp định EVFTA Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Việt Nam, viết tắt là EVFTA (European Union - Vietnam Free Trade Agreement). Đây là một thỏa thuận thương mại quan trọng được ký kết giữa Việt Nam và 27 nước thành viên trong khối EU.
Hiệp định này là một FTA thế hệ mới điển hình với phạm vi sâu. EVFTA được coi là hiệp định thế hệ mới, so với các FTA khác thì EVFTA có các điểm khác biệt như: Thứ nhất, có thể nói EVFTA hứa hẹn mang đến nhiều lợi ích kinh tế nhất cho Việt Nam.