CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG BỐI CẢNH THỰC THI EVFTA 1. Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa 1. Lý thuyết chung về xuất khẩu Theo thư viện học liệu mở Việt Nam (VOER): "xuất khẩu là hoạt động đưa các hàng hoá, dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Dưới góc độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ, một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài có thể ít rủi ro hơn và chi phí thấp hơn. Dưới góc độ phi kinh doanh như quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên giới quốc gia”. Xuất khẩu hàng hoá có bốn vai trò cơ bản sau đây: - Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho việc nhập khẩu phục vụ phát triển đất nước - Thứ hai, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. - Thứ ba, xuất khẩu có tác động trực tiếp đến thị trường lao động theo hướng tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm, giảm thiểu thất nghiệp và cải thiện mức sống của người dân.
- Cuối cùng xuất khẩu có vai trò quan trọng trong xây dựng, duy trì phát triển các mối quan hệ bền vững, lâu dài với các quốc gia khác trên thế giới nhằm tăng cường phát triển kinh tế xã hội. Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng xuất khẩu cà phê Để đánh giá được những cơ hội và thách thức mà EVFTA mang lại cho xuất khẩu cà phê Việt Nam cần đánh giá thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực EU. Có nhiều phương pháp khác nhau có thể áp dụng để phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang EU, tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả đã xây dựng một số chỉ tiêu phổ biến và sẵn có như sau: 8 – Sản lượng xuất khẩu: Chỉ số này được dùng để thể hiện khối lượng hàng hóa xuất khẩu, từ đó giúp người nghiên cứu đánh giá năng lực sản xuất, sản lượng xuất khẩu càng lớn thì năng lực sản xuất càng cao. Công thức tính: ∆Q = Q1 – Q0 Trong đó: ∆Q là sự thay đổi của sản lượng xuất khẩu giữa hai kỳ Q1: sản lượng xuất khẩu hàng hóa ở kỳ hiện tại Q0: sản lượng xuất khẩu hàng hóa ở kỳ trước – Kim ngạch xuất khẩu: Là chỉ số sử dụng trong việc đánh giá giá trị xuất khẩu trong khoảng thời gian nhất định, thể hiện sự tăng giảm giá trị xuất khẩu theo thời gian.
Đây là chỉ số quan trọng, thường được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Công thức tính: M = P x Q Trong đó: M: kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu P: Giá hàng hóa khi xuất khẩu Q: Sản lượng xuất khẩu hàng hóa – Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: ∆M = Mt – Mo Trong đó: ∆M: Tăng trưởng trong giá trị xuất khẩu Mt: Giá trị xuất khẩu hàng hóa năm t Mo: Giá trị xuất khẩu hàng hóa năm gốc – Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: g (%) = ∆M/Mo x 100% 9 Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu ∆M: Thay đổi giá trị xuất khẩu giữa 2 kỳ Mo: Giá trị xuất khẩu năm gốc – Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân trong giai đoạn: Công thức tính: G (%) = ∑gt/t x 100% Trong đó: G: Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân trong giai đoạn ∑gt: tổng tốc độ tăng trưởng kim ngạch bình quân trong t năm t: số năm trong giai đoạn tính tăng trưởng bình quân.2 Khái quát về EVFTA và một số quy định liên quan đến xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang EU 1. Giới thiệu chung về EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) bắt đầu được đàm phán vào tháng 10/2010 với sự tham gia đàm phàn chính là thủ tướng Chính phủ Việt Nam và chủ tịch Liên minh Châu Âu (EU). Đây là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU được Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU chính thức đàm phán về điều khoản hợp tác vào ngày 26 tháng 6 năm 2012.
Sau 14 phiên đàm phán, từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 8 năm 2015, hai bên chính thức hoàn thành cơ bản việc đàm phán các nội dung ký kết trong hiệp định và bắt đầu kiểm tra, rà soát tính pháp lý của các nội dung trong hiệp định trước khi đại diện Việt Nam và EU tiến hành ký kết EVFTA vào ngày 02 tháng 12 năm 2015. Tháng 6 năm 2017: Việc rà soát các pháp lý liên quan đến hiệp định chính thức được hoàn thiện. Tháng 9 năm 2017: Việt Nam tiến hành tách nội dung bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết khi phát sinh tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư khỏi EVFTA theo 10 đề nghị từ EU. Theo đó các vấn đề trên sẽ được xây dựng thành một hiệp định riêng.
Như vậy EVFTA ban đầu đã được phân chia thành 2 hiệp định mới. Ngày 26 tháng 6 năm 2018, EVFTA chính thức được tách thành EVFTA và một hiệp định bảo hộ đầu tư với tên viết tắt là EVIPA. Hai bên đã tiến hành công bố kết quả kiểm tra tính pháp lý chính thức đối với cả EVIPA và EVFTA. Tháng 6/2018: Sau khi tra soát về mặt pháp lý được hoàn tất, các khoản mục trong hai hiệp định được thống nhất và thông qua, Việt Nam và EU thông qua quyết định tách hiệp định EVFTA thành 2 hiệp định với nội dung khác nhau.
Ngày 30/6/2019, hiệp định EVFTA chính thức được ký kết trong sự có mặt của Thủ tường và Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam. Bên phía EU đại diện là Cao ủy Thương mại EU, Bộ trưởng Kinh doanh, Thương mại và Doanh nghiệp. Ngày 30/3/2020: EVFTA được hội đồng Châu Âu chính thức thông qua Ngày 08/06/2020: Quốc hội của nước ta phê duyệt hai hiệp định EVFTA và EVIPA. Sự ký kết thành công EVFTA đã đánh đấu một hành trình gần 30 năm thiết lập mối quan hệ hợp tác đa phương giữa Việt Nam và EU.
EVFTA thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình đưa nền kinh tế của Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế bị suy thoái do dịch bệnh Covid -19 diễn biến nhanh và quy mô rộng lớn tác động đến nhiều lĩnh vực. EVFTA được ký kết mở ra một bối cảnh thị trường mở cửa tạo tiền đề thuận lợi thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác toàn diện trong các lĩnh vực về kinh tế, xã hội, văn hóa, thương mại đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực EU, giúp mở rộng hơn nữa cánh cửa cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường rộng lớn này. Với cam kết xóa bỏ 99,2% số dòng thuế, tương đương với 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU cùng với đó cam kết về giá trị thương mại trong hiệp định sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam. Bên cạnh đó EVFTA còn tạo cơ hội giúp người dùng tại Việt Nam có thể tiếp cận với nhiều sản phẩm, dịch vụ tiên tiến, chất lượng cao và tiện ích hơn từ các quốc 11 gia EU xuất khẩu sang Việt Nam như các thực phẩm chăm sóc sức khỏe như thuốc, dược phẩm, chăm sóc sắc đẹp, máy móc, thiết bị… Bên cạnh việc tăng cường quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và EU, EVFTA cũng là môi trường thuận lợi để Việt Nam tạo lập mối quan hệ hợp tác với các quốc gia thành viên trong khu vực để thiết lập các hiệp định song phương bền vững giữa các quốc gia để tận dụng tối đa ưu thế của mỗi quốc gia trong phát triển kinh tế.
Những quy định liên quan đến xuất nhập khẩu cà phê trong EVFTA 1.1 Các cam kết thuế quan Các cam kết thuế quan được đánh giá là cam kết quan trọng nhất đối với hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam. Trong EVFTA, đối với sản phẩm cà phê xuất khẩu của Việt Nam, EU cam kết xóa bỏ ngay thuế quan, cụ thể: Xóa bỏ ngay thuế quan từ 7,5 – 11,5% xuống 0% cho các sản phẩm cà phê chưa rang hoặc đã rang, giảm từ 9 – 12% xuống còn 0% đối với các loại sản phẩm cà phê chế biến. Bảng 1: So sánh lộ trình cam kết cắt giảm thuế quan của Hiệp định CPTPP và EVFTA cho sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu Các chất thay Cà phê chưa Các sản phẩm Cà phê đã rang thế có chứa cà rang cà phê chế biến phê, vỏ cà phê Thuế Thuế Thuế Thuế Nước Thuế suất suất suất suất Thuế Thuế Thuế cơ cam kết cam kết cam kết cam kết cơ sở cơ sở cơ sở sở cuối cuối cuối cuối cùng cùng cùng cùng EU 9- 0% EIF* 7,5% EIF 0% 0% EIF (EVFTA) 11,5% CPTPP, trong đó: Australia Singapore 0% 0% 0% EIF 0% 0% 0% 0% Canada 12 New 0% 0% 5% EIF 0% 0% 5% EIF Zealand 11¢/ 22¢/k Brunei B7** B7 0% 0% 5% EIF kg g 5- Malaysia 0% 0% 0% 0% 0% 0% EIF 10% - B6- B22*** 8,8 - - Hạn 29,8% ngạch Nhật Bản 0% 0% 12% EIF 0% 0% + đối với 10,43 một số $/kg chế phẩm - Robusta 36% 36% 42% kể Mexico 20% : B16 72% sau 5 72% sau 5 140% từ năm - Khác: năm năm thứ 7 B10 Chi Lê 6% EIF 6% EIF 6% EIF 6% EIF Peru 17% EIF 17% EIF 9% EIF 0% 0% Nguồn: Tổng hợp cam kết trong khuôn khổ Hiệp định CPTPP và EVFTA *EIF: Thuế suất giảm về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực **B7: Lộ trình giảm thuế trong vòng 7 năm ***B6 – B22: lộ trình giảm thuế từ trong vòng 6 đến 22 năm Hiện nay Việt Nam được hưởng thuế GSP khi xuất khẩu cà phê vào EU. Đây là chính sách ưu đãi thuế áp dụng cho các quốc gia kém và đang phát triển.
Khi Việt Nam và EU cùng tham gia vào EVFTA, Việt Nam vẫn sẽ hưởng chính sách thuế GSP song song cùng EVFTA với thời gian kéo dài 2 năm tính từ thời điểm EVFTA được thực thi.