Lời mở đầu, Danh mục bảng, Danh mục hình, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về kinh doanh phần mềm công nghệ thông tin Chƣơng 2: Thực trạng kinh doanh phần mềm công nghệ thông tin của Trung tâm Công nghệ thông tin MobiFone; Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh kinh doanh phần mềm Công nghệ thông tin của Trung tâm Công nghệ thông tin MobiFone. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH DOANH PHẦN MỀM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm và vai trò của phần mềm công nghệ thông tin 1.1 Khái niệm và đặc điểm của phần mềm công nghệ thông tin * Khái niệm phần mềm công nghệ thông tin Nếu so sánh với các sản phẩm truyền thống, có mặt lâu đời trên thị trường thì Phần mềm Công nghệ thông tin là một khái niệm tương đối mới với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo Luật số 67/2006/QH11 của Quốc hội: Luật Công nghệ thông tin, điểm 12 điều 4 có quy định “Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định”. Tuy nhiên theo tác giả tìm hiểu, có rất nhiều khái niệm khác nhau về phần mềm công nghệ thông tin.
Có thể kể đến một số khái niệm đặc trưng, phổ biến như: Khái niệm 1: “Phần mềm Công nghệ thông tin là một tập hợp gồm những câu lệnh hoặc chỉ thị được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó”. Khái niệm 2: “Phần mềm Công nghệ thông tin là các câu lệnh (trong chương trình máy tính) khi được thực hiện thì cung cấp những chức năng và kết quả mong muốn. Các cấu trúc dữ liệu làm cho chương trình thao tác thông tin thích hợp. Các tư liệu mô tả thao tác và cách sử dụng chương trình”.
Khái niệm 3: “Phần mềm Công nghệ thông tin là một khái niệm đối lập với phần cứng công nghệ thông tin. Trong một hệ thống máy tính, nếu trừ bỏ đi các thiết bị và các loại phụ kiện thì phần còn lại chính là phần mềm”. Danh mục sản phẩm phần mềm ban hành kèm theo Thông tư số 09/2013/TT- BTTTT ngày 08/04/2013 về việc ban hành danh mục sản phẩm phần mềm và phần cứng điện tử của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã quy định 5 nhóm sản 6 phẩm phần mềm công nghệ thông tin, gồm: phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng, phần mềm công cụ, phần mềm tiện ích và các loại khác. Nghị định số 71/ 2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của luật công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin của Chính phủ cũng đã định nghĩa cụ thể sản phẩm phần mềm và các nhóm phần mềm, cụ thể: - Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng.
- Phần mềm hệ thống là phần mềm dùng để tổ chức và duy trì hoạt động của một hệ thống hoặc một thiết bị số (sau đây gọi chung là thiết bị số). Phần mềm hệ thống có thể tạo môi trường cho các phần mềm ứng dụng làm việc trên đó và luôn ở trạng thái làm việc khi thiết bị số hoạt động. - Phần mềm ứng dụng là phần mềm được phát triển và cài đặt trên một môi trường nhất định, nhằm thực hiện những công việc, những tác nghiệp cụ thể. - Phần mềm công cụ là phần mềm được dùng làm công cụ để cho người phát triển phần mềm sử dụng phát triển các phần mềm khác.
- Phần mềm tiện ích là phần mềm nhằm trợ giúp cho người dùng tổ chức, quản lý và duy trì hoạt động của thiết bị số. Thiết kế phần mềm: Là một quá trình giải quyết vấn đề và lập kế hoạch cho một giải pháp phần mềm. Sau khi các mục đích và đặc điểm kỹ thuật của phần mềm được quyết định, lập trình viên sẽ thiết kế hoặc thuê người thiết kế để phát triển một kế hoạch cho giải pháp phần mềm. Nó bao gồm các thành phần các vấn đề thuật toán cũng như một khung nhìn kiến trúc.
Quản lý dự án phần mềm: Là các hoạt động trong lập kế hoạch, giám sát và điều khiển tài nguyên dự án (ví dụ như kinh phí, con người), thời gian thực hiện, các rủi ro trong dự án và cả quy trình thực hiện dự án: nhằm đảm bảo thành công cho dự án. Quản lý dự án phần mềm cần đảm bảo cân bằng giữa ba yếu tố: thời gian, tài nguyên và chất lượng. 7 Bên cạnh đó, có thể phân chia phần mềm công nghệ thông tin theo quy trình hình thành, cụ thể: - Phần mềm đóng gói là sản phẩm phần mềm hoàn chỉnh, được đăng ký thương hiệu và nhân bản hàng loạt để cung cấp ra thị trường. - Phần mềm sản xuất theo đơn đặt hàng là sản phẩm phần mềm được sản xuất theo các yêu cầu riêng của khách hàng hoặc người sử dụng.
* Đặc điểm của phần mềm công nghệ thông tin - Là hàng hóa vô hình, không nhìn thấy được. Theo Thông tư số 45/2018/BTC ngày 07/5/2018 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và tài sản cố định do nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý không tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Điều 4 – Phân loại tài sản cố định quy định “phần mềm ứng dụng là tài sản cố định vô hình” - Chất lượng phần mềm: không mòn đi mà có xu hướng tốt lên sau mỗi lần có lỗi (error/bug) được phát hiện và sửa chữa. - Phần mềm vốn chứa lỗi tiềm tàng, theo quy mô càng lớn thì khả năng chứa lỗi càng cao. - Lỗi của phần mềm dễ được phát hiện ra bởi người ngoài (những người không trực tiếp tham gia xây dựng phần mềm).
- Chức năng của phần mềm thường biến hóa, thay đổi theo thời gian (theo nơi sử dụng) - Phần mềm luôn chứa những ý tưởng sáng tạo của tác giả/ nhóm tác giả làm ra nó. - Phầm mềm rất dễ bị sao chép. Các tiêu chí cơ bản của một phần mềm công nghệ thông tin tốt: Phản ánh đúng yêu cầu người dùng (tính hiệu quả - effectiveness); Chứa ít lỗi tiềm tàng; Giá thành không vượt quá giá ước lượng ban đầu; Dễ vận hành, sử dụng; 8 Tính an toàn và độ tin cậy cao.2 Vai trò của phần mềm công nghệ thông tin Ngày 17/10/2000, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 58 -CT/ TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Công nghiệp công nghệ thông tin nói chung và phần mềm công nghệ thông tin nói riêng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển hàng năm cao so với các khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.
Tăng trưởng doanh thu bình quân toàn ngành công nghiệp công nghệ thông tin trong giai đoạn 2001-2009 đạt 20-25%/năm. Đến cuối năm 2010, doanh thu công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung số đã đạt gần 2 tỷ USD, doanh thu công nghiệp phần cứng đạt trên 5,6 tỷ USD, doanh thu dịch vụ viễn thông đạt trên 9,4 tỷ USD, đưa tổng doanh thu toàn ngành viễn thông và công nghiệp công nghệ thông tin đạt gần 17 tỷ USD, gấp 19 lần so với năm 2000. Phần mềm công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay. Nó đã trở thành nhân tố quan trọng, là cầu nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu, của mọi vấn đề.
Việc nhanh chóng đưa ứng dụng phần mềm vào quá trình tự động hóa trong sản xuất kinh doanh là vấn đề đang, đã và sẽ luôn được quan tâm bởi lẽ công nghệ thông tin có vai trò rất lớn trong các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, bán hàng, xúc tiến thương mại, quản trị doanh nghiệp. Phần mềm công nghệ thông tin là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích tăng lực đổi mới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng. Sự phát triển của phần mềm công nghiệp thông tin đã tạo ra hàng loạt ngành nghề mới có giá trị gia tăng cao, đã đào tạo được hàng triệu nhân công có tay nghề cao; tạo ra nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua việc thu thuế. Sự xuất hiện và ứng dụng rộng rãi phần mềm công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế đã đẩy nhanh và mạnh hơn nữa việc hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.2 Kinh doanh phần mềm công nghệ thông tin của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc điểm kinh doanh mềm phần mềm công nghệ thông tin của doanh nghiệp Kinh doanh là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình từ đầu tư đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện quá trình dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định. Vậy theo ý kiến của tác giả, kinh doanh phần mềm công nghệ thông tin được hiểu là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình từ đầu tư, nghiên cứu một hay nhiều chương trình máy tính và tiêu thụ các sản phẩm này hoặc thực hiện quá trình dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Điều 3 của Nghị định 71/2007/NĐ-CP định nghĩa: “Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng.” Bên cạnh đó, dịch vụ phần mềm cũng được định nghĩa là “hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, cài đặt, khai thác, sử dụng, nâng cấp, bảo hành, bảo trì phần mềm và các hoạt động tương tự khác liên quan đến phần mềm”.