phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn của NHTM. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phúc Yên. Chƣơng 4: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phúc Yên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ sở lý luận về ngân hàng thƣơng mại * Khái quát chung về ngân hàng thương mại - Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ra đời và phát triển là kết quả của quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa. Đƣợc coi là con đẻ của nền kinh tế hàng hóa, NHTM đã tồn tại nhƣ là một tất yếu lịch sử trong đời sống kinh tế xã hội. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM.Rose trong cuốn quản trị ngân hàng thƣơng mại, ông viết: "Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế". 7] Ở Việt Nam khái niệm NHTM đƣợc chỉ rõ trong Luật các TCTD năm 2010 nhƣ sau: "Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận" [Điều 4; khoản 3] Có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM giữa các nƣớc trên thế giới.
Nhƣng có thể hiểu một cách chung nhất: NHTM là một tổ chức tài chính, hoạt động kinh doanh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, cung cấp một danh mục sản phẩm, dịch vụ vô cùng đa dạng với tính chất chung là nhận tiền gửi để sử dụng vào mục đích cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác. - Chức năng của Ngân hàng thương mại a. Chức năng trung gian tín dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối để dẫn vốn giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời đi vay và đảm bảo lợi ích của nền kinh tế; Ngƣời gửi tiền thu đƣợc lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoàn tiền gửi. Hơn nữa, Ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi. Ngƣời đi vay sẽ thỏa mãn đƣợc nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp.
Ngân hàng thƣơng mại sẽ tìm kiếm đƣợc lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của Ngân hàng thƣơng mại. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất đƣợc thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đầy sản xuất kinh doanh.
Chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể sử dụng một trong các phƣơng thức để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
- Vai trò của Ngân hàng thương mại Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, từ khi ra đời và phát triển NHTM đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thế giới. Ở tất cả các nƣớc, hệ thống NHTM đã không ngừng phát triển, đóng vai trò tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cung ứng vốn cho các nhà đầu tƣ cần vốn - Đó chính là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn của các NHTM. Bằng hoạt động của mình NHTM đã đóng góp một lƣợ : Một là: Ngân hàng thƣơng mại là nơi cung vốn cho nền kinh tế. Là một trung gian tín dụng NHTM đã tích tụ và tập trung đƣợc một khối lƣợng lớn tiền tạm thời nhà rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng.
Từ nguồn tiền đó tiến hành cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cần vốn để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Tức là Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời môi giới giữa một bên là những ngƣời có tiền nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những ngƣời cần vay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Thực hiện chức năng này tức là Ngân hàng đã trở thành ngƣời khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lời. Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, biến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vào việc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm cho ngƣời lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp ngƣời lao động có thêm điều kiện ổn đinh và cải thiện đời sống.
Hai là: Ngân hàng giúp cho các nhà kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng tài trợ vốn cho các Doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủ các điều kiện do Ngân hàng đặt ra. Trong đó các khoản tín dụng mà Doanh nghiệp nhận đƣợc đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải hoàn trả gốc. Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Doanh nghiệp thì trƣớc khi cho vay, Ngân hàng cần phải thẩm định phƣơng án sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến Doanh nghiệp (Uy tín, trình độ nhân viên, tài sản đảm bảo…) một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đó cán bộ tín dụng giúp Doanh nghiệp xây dựng phƣơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho Doanh nghiệp vay vốn, Ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp Doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn.
Ba là: Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển của vốn đầu tƣ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển vùng. Hoạt động tín dụng Ngân hàng ngày càng phát triển đã làm cho việc di chuyển vốn diễn ra một cách dễ dàng, tập trung duy trì lực lƣợng bình quân từ tất cả các ngành. Đồng thời với sự tác động của Ngân hàng vốn đƣợc dịch chuyển từ vùng thừa vốn sang vùng thiếu vốn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữa các ngành, xoá dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định. : Hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạt động chủ yếu là huy dộng vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán.
Lƣợng tiền trong lƣu thông đƣợc Ngân hàng kiểm soát. Thông qua các khoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định đƣợc lƣợng tiền mặt đang lƣu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soát nhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hƣởng xấu có thể xảy ra.