Luận án tiến sĩ về dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành điều dưỡng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành điều dưỡng theo hướng tiếp cận năng lực nghề nghiệp.

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

260
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Về dạy học Toán theo hướng phát triển năng lực

1.2. Tình hình nghiên cứu dạy học Xác suất - Thống kê gắn với nghề nghiệp

1.3. Những nghiên cứu dạy học Xác suất - Thống kê cho sinh viên ngành Y và ngành Điều dưỡng

1.4. NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP

1.4.1. Quan niệm năng lực nghề nghiệp

1.4.2. Năng lực nghề nghiệp Điều dưỡng

1.5. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ ĐIỀU DƯỠNG

1.5.1. Vai trò của Xác suất - Thống kê đối với nghề Điều dưỡng

1.5.2. Nội dung chương trình và yêu cầu dạy học Xác suất - Thống kê cho sinh viên ngành Điều dưỡng

1.5.3. Khảo sát thực trạng dạy và học Xác suất - Thống kê ở các Trường đào tạo nghề Điều dưỡng

1.6. TIẾP CẬN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP TRONG DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

1.6.1. Khả năng tiếp cận năng lực nghề Điều dưỡng của việc vận dụng Xác suất - Thống kê

1.6.2. Cấu trúc năng lực vận dụng Xác suất - Thống kê vào nghề nghiệp của SV ngành Điều dưỡng

1.6.3. Biểu hiện và tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng Xác suất - Thống kê vào giải quyết vấn đề thực tiễn trong nghề Điều dưỡng

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG BIỆN PHÁP DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

2.1. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP

2.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC XÁC SUẤT - THỐNG KÊ TIẾP CẬN NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

2.2.1. Biện pháp 1: Sử dụng tình huống thực tiễn điều dưỡng để gợi động cơ, gây hứng thú cho sinh viên trong quá trình học Xác suất - Thống kê

2.2.2. Biện pháp 2: Củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng giải bài tập Xác suất - Thống kê có nội dung liên quan đến thực tiễn nghề Điều dưỡng

2.2.3. Biện pháp 3: Xây dựng và sử dụng hệ thống ví dụ, bài tập Xác suất - Thống kê gắn với thực tiễn nghề Điều dưỡng

2.2.4. Biện pháp 4: Tập luyện cho sinh viên vận dụng Xác suất - Thống kê vào giải quyết tình huống điều dưỡng theo quy trình giải bài toán thực tiễn

2.2.5. Biện pháp 5: Tổ chức cho sinh viên sử dụng Xác suất - Thống kê trong nghiên cứu khoa học về nghề Điều dưỡng

2.3. SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG XÁC SUẤT THỐNG KÊ

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM

3.1.1. Mục đích thực nghiệm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. KẾ HOẠCH VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

3.2.1. Quy trình và phương pháp tiến hành thực nghiệm

3.2.2. Kế hoạch thực nghiệm

3.3. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM

3.4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

3.4.1. Mục tiêu, nội dung đánh giá

3.4.2. Phương pháp và kết quả đánh giá

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học xác suất thống kê

Dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành điều dưỡng là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục đại học hiện nay. Mục tiêu chính của việc dạy học này là phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên, giúp họ có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc giảng dạy cần được thiết kế sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành điều dưỡng, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo. Theo nghiên cứu, việc áp dụng xác suất thống kê trong điều dưỡng không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu mà còn hỗ trợ họ trong việc ra quyết định trong công việc hàng ngày. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành y tế ngày càng phát triển và yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ.

1.1. Tầm quan trọng của xác suất thống kê trong điều dưỡng

Trong ngành điều dưỡng, xác suất thống kê đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng. Việc hiểu và áp dụng các khái niệm như phân phối, độ tin cậy và kiểm định giả thuyết giúp sinh viên có thể đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân một cách chính xác hơn. Hơn nữa, việc sử dụng xác suất thống kê trong nghiên cứu khoa học y tế giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, từ đó cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân. Theo một nghiên cứu gần đây, sinh viên điều dưỡng có kiến thức vững về xác suất thống kê có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn và tự tin hơn trong công việc thực tế.

II. Phương pháp dạy học xác suất thống kê

Để dạy học xác suất thống kê hiệu quả cho sinh viên ngành điều dưỡng, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Các phương pháp này bao gồm học tập theo năng lực, học tập dựa trên tình huống thực tiễn và sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng mà còn khuyến khích họ tham gia tích cực vào quá trình học tập. Hơn nữa, việc sử dụng các phần mềm thống kê như SPSS trong giảng dạy giúp sinh viên thực hành và áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế trong ngành điều dưỡng.

2.1. Học tập theo năng lực

Học tập theo năng lực là một phương pháp dạy học hiện đại, giúp sinh viên phát triển các kỹ năng cần thiết cho nghề nghiệp. Trong bối cảnh dạy học xác suất thống kê, phương pháp này cho phép sinh viên tự đánh giá năng lực của mình và tìm kiếm các nguồn tài liệu phù hợp để nâng cao kiến thức. Việc này không chỉ giúp sinh viên nắm vững lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng thực hành, từ đó nâng cao năng lực nghề nghiệp. Theo một nghiên cứu, sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập theo năng lực có xu hướng đạt kết quả học tập tốt hơn và có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn cao hơn.

III. Đánh giá năng lực sinh viên

Đánh giá năng lực sinh viên trong việc áp dụng xác suất thống kê vào thực tiễn điều dưỡng là một phần quan trọng trong quá trình dạy học. Việc đánh giá không chỉ dựa trên kết quả bài kiểm tra mà còn cần xem xét khả năng áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Các tiêu chí đánh giá cần được xây dựng rõ ràng, bao gồm khả năng phân tích dữ liệu, đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng và khả năng giải quyết vấn đề. Theo một khảo sát, sinh viên có khả năng vận dụng xác suất thống kê vào thực tiễn thường có kết quả học tập tốt hơn và tự tin hơn trong công việc.

3.1. Tiêu chí đánh giá năng lực

Tiêu chí đánh giá năng lực sinh viên trong việc áp dụng xác suất thống kê cần được xác định rõ ràng. Các tiêu chí này có thể bao gồm khả năng phân tích và diễn giải dữ liệu, khả năng sử dụng phần mềm thống kê, và khả năng áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế trong ngành điều dưỡng. Việc đánh giá cần được thực hiện thường xuyên và liên tục để đảm bảo sinh viên có thể theo dõi sự tiến bộ của mình. Theo một nghiên cứu, việc sử dụng các tiêu chí đánh giá rõ ràng giúp sinh viên nhận thức được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó có kế hoạch cải thiện hiệu quả hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Về dạy học Toán theo hướng phát triển năng lực 1. Một số công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực trên thế giới Vào năm 1982, William E.

Blank xuất bản cuốn “Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên NL thực hiện”. Tác giả đã nghiên cứu các VĐ cơ bản của giáo dục và đào tạo dựa trên NL, trình bày về “phân tích nghề, phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ NL người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các nhóm HT, cải tiến và quản lý chương trình đào tạo” [128]. Trong cuốn sách “Phương pháp sư phạm tích hợp, hay cách phát triển năng lực ở nhà trường” ([129]), Xavier Rogiers (1996) đã chỉ ra con đường phát triển NL cho người học thông qua giáo dục tích hợp. Trong [112], Peter Morgan (1998) nghiên cứu về một số chiến lược phát triển NL.

Joe Bolger (2000, [105]) đã nghiên cứu về sự cần thiết, nội dung và cách thức phát triển NL. Tremblay Denyse (2002, [124]) đã xây dựng phương pháp tiếp cận dựa trên NL nhằm giúp người học tự chủ trong học tập và vận dụng kiến thức suốt đời. Trong giáo dục phổ thông, vào những năm 2005 - 2010, ở Canada đã có những công trình nghiên cứu về đánh giá NL của HS tiểu học và THCS ([115], [116]). Vào năm 2009, Samuel Otoo, Natalia Agapitova và Joy Behrens ([114]) xây dựng khung phát triển NL trong học tập và cách thức tiếp cận giáo dục phát triển NL.

Trong chương trình phát triển Liên hiệp quốc, vào năm 2010, trong [125] đã nghiên cứu về VĐ đo lường NL. Nodine (2016) trong [123] đã chỉ ra phát triển giáo dục dựa trên NL cần được triển khai trong giáo dục đại học ở Mỹ; nói riêng là trong đào tạo giáo viên, luan an 9 trong đào tạo nghề ở các trường đại học và cao đẳng và đưa ra cách thiết kế PPDH nhằm tiếp cận phát triển NL. Đặc biệt là Dorothy M. Rogers (2014, [96]) đã trực tiếp nghiên cứu về vấn đề phát triển NL điều dưỡng ở trình độ ban đầu.

Trong phạm vi môn Toán, có thể điểm qua một số công trình như sau: V. Với tác phẩm “Toán học phổ thông và những xu hướng phát triển” tác giả Maxlôva G. Tomas Hojgaard Jensen (2007, [122]) đã tiếp cận VĐ giáo dục toán học dựa trên đánh giá NL mô hình hóa của người học khi ứng dụng toán học vào giải quyết những VĐ thực tiễn. Các tác giả Werner Blum, Rita Borromeo Ferri (2009, [127]) đã đề cập đến NL vận dụng toán học vào thực tiễn từ khía cạnh mô hình hóa toán học.

Tadesse Walelign (2014, [120]) tiến hành nghiên cứu VĐ đánh giá NL Toán học của người học khi học và vận dụng toán học. Như vậy, có thể thấy DH tiếp cận phát triển NL đã sớm được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu và trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục ở thế kỷ XXI. Đối với giáo dục toán học, xu hướng này phù hợp với nhu cầu gắn học Toán với NL vận dụng vào giải quyết những VĐ thực tiễn cho người học. Một số công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực ở Việt Nam Đối với nghề sư phạm, có những công trình nghiên cứu về NL như: Đinh Quang Báo và các tác giả (2016) trong [5], khi xây dựng chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông đã nhấn mạnh đến NL giáo dục và DH của giáo viên.

Nguyễn Ngọc Hùng (2004) [35] nghiên cứu về NL thực hiện dành cho SV sư phạm kỹ thuật. Nguyễn Quang Việt (2006) [88] tiếp cận vấn đề đánh giá NL thực hiện cho SV. luan an 10 Nguyễn Trường Giang (2010) nghiên cứu phát triển kỹ năng DH thực hành đối với SV ĐHSP kỹ thuật theo hướng module hóa nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra [21]. Trịnh Xuân Thu (2012) [66] GQVĐ “rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV Cao đẳng sư phạm ngành Công nghệ theo NL thực hiện”.

Đối với giáo dục nghề nghiệp thuộc khối kinh tế, kỹ thuật có những công trình: Lê Bá Phương (2016, [58]) nghiên cứu VĐ phát triển NL NN cho SV kinh tế, kỹ thuật ở Trường Đại học Công nghiệp. Nguyễn Đức Trí (2000) [72] và Cao Danh Chính (2012) [12] đã nghiên cứu mô hình phát triển NL cho SV ở các trường thuộc khối kỹ thuật. Hoàng Ngọc Trí (2005) [73] nghiên cứu về phát triển NL nghề xây dựng trong đào tạo công nhân. Đối với giáo dục nghề nghiệp thuộc một số ngành nghề khác có những công trình: Trần Xuân Phú (2012) nghiên cứu DH theo hướng phát triển NL cho học viên trường sỹ quan chính trị [56]; Tống Diệp Thanh (2017) nghiên cứu vận dụng PPDH tích cực dựa trên NL thực hiện đối với dịch vụ nhà hàng [64];.

Có thể thấy, trong các nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực kể trên, các tác giả đã tiếp cận VĐ phát triển NL trong giáo dục thông qua nêu quan điểm, đề xuất mô hình, xác định thành phần, xây dựng các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá,. Trong phạm vi môn Toán, có thể điểm qua một số công trình như sau: Trong giáo trình “PPDH môn Toán” ([42]), Nguyễn Bá Kim đã tiếp cận VĐ phát triển NL HS từ góc độ DH toán trong HĐ và bằng HĐ, gắn với hoạt động thực hành vận dụng toán học vào thực tiễn của HS. Tư tưởng này được triển khai cụ thể hóa trong [43] khi định hướng giải pháp dạy học Toán nhằm phát triển NL HS. Tiếp cận từ yêu cầu đổi mới mục tiêu môn Toán, Trần Kiều (2014, [41]) đã định hướng những NL cần hình thành và phát triển cho người học qua môn Toán ở trường phổ thông Việt Nam gồm 6 thành phần là: NL tư duy; NL GQVĐ; NL mô hình hóa Toán học; NL giao tiếp; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán; NL học tập độc lập và hợp tác.

Theo hướng tiếp cận NL nghề dạy Toán, tác giả Nguyễn Chiến Thắng (2012) [65] và Bùi Văn Nghị, Hoàng Ngọc Anh, Đỗ Thị Trinh, Nguyễn Tiến Trung (2016, [52]) đã nghiên cứu về VĐ phát triển NL DH Toán cho SV sư phạm. luan an 11 Nguyễn Anh Tuấn (2018, [92]) đã tiếp cận từ vấn đề làm rõ cơ sở khoa học và một số biện pháp thực hiện giáo dục toán học gắn với thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam đã thể hiện một cách tập trung ở chương trình giáo dục phổ thông môn toán năm 2018 ([6]), khi xác định NL toán học đối với HS bao gồm 5 NL thành phần là: NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Đồng thời được các tác giả Đỗ Đức Thái, Đỗ Tiến Đạt, Phạm Xuân Chung, Nguyễn Sơn Hà, Phạm Sỹ Nam, Vũ Đình Phượng, Nguyễn Thị Kim Sơn, Vũ Phương Thúy, Trần Quang Vinh triển khai cụ thể những VĐ liên quan đến DH Toán phát triển NL HS ([63]) Trong lĩnh vực giáo dục toán học, các kết quả nghiên cứu cho thấy: Phát triển NL vận dụng Toán học nhằm tiếp cận NL NN cho người học là định hướng chiến lược trong cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học.

Riêng về DH XS-TK với đối tượng học nghề theo hướng tiếp cận NL NN, chúng tôi sẽ trình bày ở một mục riêng sau đây. Tình hình nghiên cứu dạy học Xác suất - Thống kê gắn với nghề nghiệp 1. Trên thế giới Về giảng dạy XS-TK nói chung, có thể điểm qua một số kết quả như sau: Tại Hoa Kỳ, các nhà TK học đã có một số bài viết khuyến nghị đối với những người mới tham gia giảng dạy TK hoặc muốn tìm hiểu thêm về nó. Trong “Giảng dạy TK” của George Cobb (1992) đã tóm tắt và giải thích về các khuyến nghị của một tập thể nhóm nghiên cứu ASA/MAA là: 1) Dạy các tư duy TK; 2) Cung cấp các dữ liệu và khái niệm khác để ít lý thuyết hơn và ít công thức hơn; 3) Tăng cường HT tích cực của người học [95].

Ở đây có thể thấy tư tưởng gắn học TK với vận dụng thực tế. Tham khảo trong [121], có thể kể đến một số bài viết liên quan đến VĐ DH XS-TK: Trong bài viết “Sử dụng đánh giá để cải thiện việc học của HS trong DH TK” (1994), tác giả Joan Garfield đã tiến hành một nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng về các kỹ thuật đánh giá số liệu TK,. Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về DH XS-TK từ những khía cạnh và mục đích nghiên cứu khác nhau, nhưng đều tập trung vào việc đưa ra luan an 12 những lý luận và cách thức giảng dạy XS-TK nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng đối với người học. Về DH XS-TK gắn với thực tiễn đào tạo nghề: Joan Garfield (1995) có những bài viết xung quanh chủ đề “Làm thế nào SV học TK”, trong đó thảo luận, nghiên cứu cách thức để SV học TK và một số phát hiện có ý nghĩa cho các GV, tác giả nhấn mạnh về gắn nội dung TK được học với ứng dụng trong NN được đào tạo.

Ở bài viết “Rút kinh nghiệm trong các kỹ thuật đánh giá, xác nhận hiệu quả thực tiễn của một khoá giảng dạy TK” của Beth Chance (1997) đã đưa ra lời khuyên cho việc thực hiện một loạt các thực tiễn đánh giá tùy thuộc vào mục đích HT và các mục tiêu khác. Ở bài báo “TK, Toán học và Giảng dạy” của George Cobb và David Moore (1997) đã nêu bật sự khác biệt giữa các môn học của toán học và TK, cho thấy ý nghĩa của việc giảng dạy TK nằm ở chỗ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thể hiện sự gắn bó với thực tiễn. David Moore, trong “Nội dung mới và PP sư phạm mới khi giảng dạy TK” (1997), đã tóm tắt các xu hướng gần đây trong việc giảng dạy về sự hiểu biết số liệu TK, nó được cấu thành từ 3 yếu tố nội dung, sư phạm và công nghệ. Điều đó thể hiện rằng: nội dung (thuần túy toán học) và yêu cầu sư phạm cần gắn bó với công nghệ - “môi trường” ứng dụng của TK.

Viết về yêu cầu gắn DH TK với thực tiễn, trong tác phẩm “Teaching Statistics: Resources for Undergraduate Instructors”, Thomas Moore (2000) nghiên cứu về DH TK tập trung vào việc sử dụng các dự án và nghiên cứu trường hợp, trong đó nhấn mạnh rằng SV phải tự xây dựng kiến thức về TK thông qua trải nghiệm thực tế với dữ liệu thực và mô phỏng các sự kiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về dạy học xác suất thống kê cho sinh viên ngành điều dưỡng" của tác giả Lại Văn Định, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Anh Tuấn, được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2022. Bài luận án này tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học xác suất và thống kê cho sinh viên ngành điều dưỡng, nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp cho họ. Nội dung của luận án không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các khái niệm thống kê mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để áp dụng vào thực tiễn trong lĩnh vực y tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực điều dưỡng và các phương pháp nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, và Tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2021, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chăm sóc bệnh nhân trong điều dưỡng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích trong lĩnh vực điều dưỡng và y tế.