CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện hành Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nhiều quốc gia trong vài thập niên gần đây đã khẳng định cách xây dựng chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia. Thế nhưng hiện nay, nhiều môn học ở trường phổ thông tại Việt Nam, trong đó có môn Ngữ văn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội. Thực tế này đã được chỉ ra từ nhiều năm nay, đòi hỏi các nhà giáo dục cần quan tâm thực hiện thay đổi nội dung, đặc biệt là phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường hướng tới phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống cũng như tạo điều kiện thích nghi với môi trường làm việc trong tương lai cho các em học sinh.
Về phương pháp giáo dục phổ thông, điều 28 luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật giáo dục 2005). Trong khi đó, thực trạng dạy học Ngữ văn tại Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy cách dạy học Ngữ văn theo lối bình giảng và cung cấp cho học sinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt không đáp ứng được nhu cầu học tập của giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại. Kinh nghiệm đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa các thể loại văn bản được đưa vào nhà trường trong chương trình giáo dục hiện hành cũng đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng đó trong bối cảnh xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung. Nhiều điểm tích cực, tiến bộ của chương trình hiện hành sẽ phải được kế thừa và phát huy hơn nữa.
Để phát huy năng lực của học sinh, người viết cho rằng môn Ngữ văn cần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng như sau: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Một là: Đổi mới từ cách dạy truyền thống thiên về đọc chép sang cách dạy đọc-hiểu Trước đây, chúng ta thường coi phân tích hay giảng văn, bình luận là một phương pháp đặc thù của dạy học văn, theo hướng áp đặt, một chiều. Cách dạy đọc-hiểu giúp học sinh biết cách đọc, cách tiếp cận, khám phá nội dung và nghệ thuật của văn bản theo các mức độ khác nhau từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi dậy ở học sinh khả năng liên tưởng, tưởng tượng, giúp học sinh thực sự được đắm mình trong thế giới văn chương. Từ đó, khơi dậy ở các em tình cảm mang tính thẩm mỹ, biết hướng tới giá trị chân-thiện-mĩ. Học sinh có thể được phát huy năng lực đọc-hiểu các văn bản theo đặc trưng thể loại, các loại văn bản chứa phương tiện biểu đạt như sơ đồ, bảng biểu… Việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh năng lực đọc-hiểu mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo.
Tức là học sinh có khả năng trình bày, thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân trước đối tượng, vấn đề đặt ra. Điều này sẽ hạn chế được hiện tượng học sinh học hết chương trình lớp 12 vẫn chưa có khả năng tự tạo lập được văn bản theo yêu cầu như văn bản hành chính (đơn xin nghỉ học, đơn xin kết nạp Đoàn…). - Hai là: Dạy học tích hợp là tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao cho học sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, từ đó phát triển được các năng lực cần thiết. Dạy học tích hợp diễn ra ở ba phân môn Làm văn, Tiếng Việt, Văn học.
Có thể tích hợp ba phân môn hoặc tích hợp môn Ngữ văn với các môn học khác như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân. Ngoài giờ lên lớp, tích hợp giữa kiến thức trong sách vở với kiến thức thực tiễn cuộc sống. Nếu chương trình ngữ văn THCS lấy trục tích hợp là các kiểu văn bản như miêu tả, tự sự, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng để học sinh hiểu đặc trưng văn bản theo kiểu loại, từ đó có khả năng tạo lập văn bản thì chương trình ngữ văn THPT lấy trục tích hợp là nội dung đọc-hiểu văn bản và tạo lập văn bản, giúp học sinh phát triển, nâng cao năng lực thưởng thức văn học và năng lực sử dụng tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để phát huy tối đa hiệu quả giờ học, ta có thể sử dụng những phương pháp tích cực như: - Đóng vai: có thể cho học sinh đóng vai các nhân vật trong tác phẩm tự sự, kịch hoặc xử lý một tình huống giao tiếp giả định… - Dạy học theo dự án: tạo điều kiện cho học sinh thực hiện nhiệm vụ phức hợp giữa lý thuyết và thực tiễn.
Theo đó, học sinh phải tự lực cao trong quá trình học tập từ việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra kết quả… - Trải nghiệm thực tế, sáng tạo: Học sinh được trải nghiệm thực tế những địa điểm, đối tượng (đang tồn tại trong thực tế) liên quan đến bài học, theo đó sẽ tự rút ra kiến thức cho bản thân… Như vậy, để có thể dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức cần truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; đặc biệt trong xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn bị bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa. Khái lược về thi pháp học 1. Khái niệm về thi pháp và thi pháp học Thi pháp của Aristote ra đời cách đây hơn 2,000 năm.
Trong suốt mấy chục thế kỉ nay, biết bao sách báo về thi pháp đã tiếp tục công trình của ông. Thi pháp cổ điển quy định các chuẩn mực sáng tác anh hùng ca, kịch, thơ,…Thi pháp hiện đại không dạy sáng tác thể loại này hay thể loại khác như thế nào mà nó miêu tả các sáng tác, tức là các phương thức nghệ thuật mà các nhà thơ, nhà văn sáng tạo trong tác phẩm của mình. Theo cách hiểu thông thường hiện nay, “thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của các tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học,…” [11; tr9] Như vậy, thi pháp là hệ thống nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nền văn học.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nói cách khác, thi pháp là ý thức của nhà văn khi sáng tạo ra hình thức nghệ thuật. Hình thức nghệ thuật có hai mặt: - Mặt cụ thể, cảm tính (chất liệu tác phẩm, không gian, thời gian, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, mâu thuẫn, xung đột…) - Mặt quan niệm (lí lẽ, nhận thức, triết lí, tư tưởng, tình cảm,…) Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp. Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp,…) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể. Ở đó, các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan,… tức là cái đẹp của thế giới, con người.
Nếu mỹ học là lý luận các nghệ thuật thì thi pháp học chính là mỹ học của văn học. Thi pháp trước hết nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó mới tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm. Tác phẩm văn học còn được một số nhà lý luận khác gọi là hệ thống cấu trúc. Thi pháp học nghiên cứu các cấu trúc ấy.
Ký hiệu và cấu trúc là sự vật chất hóa bằng ngôn từ những ý tưởng của các tác giả. Phê bình ký hiệu nhấn mạnh ý nghĩa của các ký hiệu, của từ ngữ, phê bình cấu trúc nhấn mạnh các mối liên hệ bên trong văn bản. Thi pháp học còn bao gồm “phương pháp chủ đề” dựa trên triết học Freud, nó nghiên cứu những “ám ảnh”, những trùng điệp của ám ảnh trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm của một nhà văn. Vậy với thi pháp hiện nay, tác phẩm văn học chỉ tồn tại trong ngôn từ, trong văn bản.
Người đọc, người phê bình cần tìm kiếm ý nghĩa tác phẩm trên văn bản ấy. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học 1. Các bình diện thi pháp chung 1. Thi pháp tác giả Tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngoài việc cảm nhận nội dung khách quan, chúng ta còn giao tiếp với tác giả, đồng cảm với tác giả.
Hình tượng tác giả đã đứng ra nói chuyện và giao tiếp với độc giả, vậy chúng ta không nên đồng nhất giữa hai tác giả: tác giả tiểu sử và tác giả nghệ thuật. Hình tượng tác giả có chân dung hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm. Đặc biệt có khi tác giả tự miêu tả mình. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhìn chung, hình tượng tác giả thể hiện trên ba mặt: Cái nhìn; giọng điệu; lập trường (lựa chọn, phân tích, đánh giá).
Hình tượng tác giả có vẻ tồn tại như vô hình. Tuy vậy, khi đọc văn, người đọc vẫn có xu hướng đọc theo chỉ dẫn của tác giả, đọc thầm hay đọc thành tiếng theo giọng điệu của tác giả.