Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học theo hướng phát triển năng lực người học Đến nay đã có rất nhiều tác giả cả trong nước lẫn quốc tế nghiên cứu và viết về phương pháp dạy học truyền thống, tôi xin được trích dịch [18] như sau: Phương pháp dạy học truyền thống dựa trên tư duy cũ, đó là tập trung vào điểm số của học sinh. Hệ thống giáo dục truyền thống tập trung nhiều hơn vào việc xếp hạng và sắp xếp học sinh, xác định ai sẽ có thể đi học đại học. Hệ thống giáo dục truyền thống dựa trên thời gian học của học sinh, theo niên chế, tức là học sinh tiến lên lớp tiếp theo sau một năm đi học bất kể họ thực sự học được những gì.
Do đó, học sinh có càng nhiều gánh nặng với những lỗ hổng tích lũy về kỹ năng và kiến thức khiến việc này trở nên khó khăn hơn trong việc học tập để tốt nghiệp. Các lớp học truyền thống chủ yếu đánh giá dựa trên điểm số, điều này chỉ tạo hứng thú đối với những học sinh có điểm số cao, suất sắc trong lớp, số còn lại thì không. Nó làm mất đi sự hứng thú trong học tập cũng như hứng thú tham gia các hoạt động tập thể với những em có kết quả học tập chưa cao Trong các trường học, có sự khác biệt về phương pháp dạy học giữa các giáo viên, mỗi người thường theo cách riêng mà bản thân thành thạo. Cách thức để giáo viên đánh giá chủ yếu thông qua chấm điểm, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi học, làm bài tập và bài kiểm tra.
Trong các trường học truyền thống, học sinh được hướng dẫn thực hiện đúng theo một quy trình học tập đã được định sẵn dập khuân : đi học đúng giờ , ngồi học nghiêm túc, làm đúng theo những gì giáo viên nói. Hầu như tất cả mọi học sinh vào lớp học, ngồi đúng vị trí, im lặng cho đến khi chuông reo hết giờ, làm đúng như giáo viên nói trong giờ học, cố gắng tập trung trong suốt thời gian của bài giảng, cố gắng ghi nhớ những dạng bài tập , câu hỏi quan trọng sẽ có trong nội dung kiểm tra cuối kỳ. Trong hoạt động học tập là một hoạt động không có thứ tự nhất định nào, mỗi học sinh có cách hiểu, thái độ, cách học tập khác nhau. Quan niệm về năng lực Đến nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực, chẳng hạn Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OECD) quan niệm NL là “Khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.” [2, tr22] Chương trình Giáo dục Trung học bang Quesbec, Canada năm 2004 xem NL “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.” [2, tr22] Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả và tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống.
Theo cách của Weinert (2001): “Năng lực thể hiện khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có, hoặc học được, của cá nhân, nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng nhằm giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm. Rudich, “năng lực là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định”.[11] Gerard và Roegiers (1993) đã coi năng lực là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên.[10] De Ketele (1995) cho rằng năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra.[11] Xavier Roegiers (1996) quan niệm năng lực là một vấn đề tích hợp ở chỗ nó bao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tình huống trong đó diễn ra các hoạt động.[10] Theo John Erpenbeck, năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tãng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua chủ định.[3] Một số nước lại hiểu năng lực theo Nach Klieme (2003): Năng lực thể hiện qua khả năng thực hiện thành công các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề, hay các tình huống nảy sinh, trên cơ sở vận dụng các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác như động cơ, ý chí, quan niệm giá trị, suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hành động. Theo đó, kiến thức và kĩ năng là nền tảng của năng lực. Cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “NL là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”[2, tr22] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách hiểu của Trần Trọng Thủy và Nguyên Quang Uẩn: “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt nhất trong lĩnh vực hoạt động ấy.”[2,tr22] Qua tham khảo một số tài liệu chúng tôi thấy: Đến nay vẫn còn có những cách hiểu chưa giống nhau về năng lực, nguyên nhân chính là do có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Chẳng hạn, tiếp cận từ bình diện của tâm lí học, hay tiếp cận từ bình diện giáo dục nghề nghiệp,. Chẳng hạn: - Năng lực xem như mục tiêu của dạy học, giáo dục. Theo cách hiểu này mục tiêu dạy học (mục tiêu bài học) phải hướng vào hình thành và phát triển được một số năng lực chung, cốt lõi, hay một số năng lực đặc thù môn học; các năng lực chung cùng với các năng lực đặc thù tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học. - Đề cập cấu trúc chung của năng lực.
Theo đó: Năng lực được xem là tổ hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ, sự quyết tâm,. - Tìm kiếm liên hệ giữa năng lực và nội dung dạy học. Theo cách hiểu này trong mỗi môn học đều tiềm ẩn các cơ hội hình thành và phát triển năng lực cho người học. Vì thế, nếu khéo khai thác những nội dung và hoạt động học tập cơ bản, được liên kết với nhau nhằm hướng vào hình thành các năng lực chung, cốt lõi cần đạt.
- Đề cập tới bình diện phát triển năng lực. Minh chứng cho mức độ phát triển năng lực có thể được mô tả qua các chuẩn thành tích. Theo đó, đến một thời điểm nhất định, học sinh có thể cần phải đạt được những gì? theo tiêu chí nào?. - Đề cập tới bình diện phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục.
Theo đó, mục tiêu hình thành và phát triển được một số năng lực chung, cốt lõi sẽ định hướng cho việc: lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nội dung, hoạt động dạy học, đánh giá mức độ tiến triển về năng lực của người học theo đường phát triển đã định. - Đề cập tới bình diện thực hành, ứng dụng, gắn với thực tiễn, liên môn. Theo đó, năng lực được thể hiện thông qua giải quyết những vấn đề nảy sinh, hay đòi hỏi vận dụng kiến thức trong các tình huống liên quan, gắn với thực tiễn, liên môn như: ước lượng, tính toán (khoảng cách, dung tích,.), vẽ hình biểu diễn, tìm phương án tối ưu,. Ta biết rằng, để con người thực hiện tốt nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng,… Vì thế, có thể xem năng lực của một cá nhân như là tổ hợp của các khả năng giúp người đó hoàn thành công việc, trong những tình huống cụ thể, nảy sinh từ cuộc sống, hay học tập.
Từ đó, có thể xem năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. Năng lực cốt lõi đề cập đến những năng lực được coi là nền tảng, nhờ chúng người ta có thể thực hiện được yêu cầu công việc đặt ra, hay hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau. Điểm qua như trên cho thấy năng lực có tính phức hợp hơn kĩ năng và mức độ thành thạo của một kĩ năng cũng có thể xem như thể hiện một phần mức độ cao hay thấp của năng lực tương ứng. Với mỗi ngành hoặc chuyên ngành cụ thể năng lực lại được định nghĩa ở phạm vi hẹp hơn phù hợp với đặc thù.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của CHLB Đức, để áp dụng vào dạy học, bên cạnh việc hiểu những thuộc tính chung của năng lực thì cần nhất là phải xác định được năng lực đặc trưng của học sinh, bởi nếu xác định sai thì không tài gì có thể triển khai được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nước ta, các nhà tâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Họ cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là cần thiết, làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn, còn năng lực chuyên môn đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ: năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ,. Tuy nhiên, theo cách hiểu này năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà có quan hệ chặt chẽ với nhau.