CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước vấn đề dạy học theo dự án 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Nguồn gốc của dạy học dự án có thể bắt nguồn từ thời cổ đại, Khổng Tử, nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc, được biết đến là người tham gia thảo luận và tranh luận với các học trò của mình. Nhà triết học Hy Lạp cổ điển, Socrates, đã sử dụng phương pháp đặt câu hỏi và bác bỏ, và Aristotle cũng ủng hộ khái niệm vừa học vừa làm.
Như Aristotle đã viết trong tác phẩm Nicomachean Ethics của mình, "Bất cứ điều gì chúng ta phải học để làm, chúng ta sẽ học bằng cách thực hiện nó." Điều này gắn liền với định hướng thực tiễn của dạy học dự án [23]. Các khái niệm về học tập theo dự án tiếp tục phát triển trong thời kỳ cận đại. John Amos Comenius, nhà triết học, nhà sư phạm và nhà thần học người Séc, được coi là cha đẻ của nền giáo dục hiện đại. Ông ủng hộ việc phổ cập giáo dục, dẫn dắt các trường học và cố vấn cho các chính phủ.
Ông tin rằng việc học nên tập trung vào học sinh chứ không phải giáo viên, rằng việc học phải gắn liền với thực tiễn hàng ngày, rằng chúng ta nên tập trung vào suy nghĩ hơn là ghi nhớ, và đa phương tiện giúp tăng cường học tập. Ông đã tạo ra cuốn sách giáo khoa đa phương tiện đầu tiên có hình minh họa bằng tranh khắc gỗ. Ý tưởng của ông phù hợp chặt chẽ với các thành phần cốt lõi của dạy học theo dự án như sự phản ánh và tính xác thực [28]. Thời kỳ Khai sáng bắt đầu vào cuối thế kỷ mười tám và ưu tiên lý trí hơn tôn giáo.
Các nhà tư tưởng khai sáng đã phát triển những ý tưởng mang tính cách mạng về giáo dục và sư phạm, nhấn mạnh đến tư duy phản biện và cách tiếp cận lấy trẻ em làm trung tâm. Ví dụ: phương pháp của Johann Heinrich Pestalozzi tập trung vào nhu cầu và sở thích của trẻ. Ông tin rằng sinh viên nên tham gia tích cực vào quá trình học tập, đặt nền tảng cho sự lựa chọn của sinh viên và định hướng hứng thú cho người học của phương pháp dạy học theo dự án. Một số nhà giáo dục đổi mới trong thế kỷ 19 và 20 đã thúc đẩy các nguyên tắc của học tập dựa trên dự án trong triết lý giáo dục của họ.
Một học sinh của Pestalozzi, nhà giáo dục người Đức Friedrich Fröbel nhận ra rằng trẻ em có những 5 nhu cầu và khả năng riêng biệt và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng chúng như “cây trong vườn”. Dựa trên ý tưởng này, ông đã đặt ra từ mẫu giáo vào năm 1840. Nhà triết học và lý thuyết giáo dục thế kỷ 20 John Dewey lập luận rằng trải nghiệm tích cực sẽ giúp trẻ chuẩn bị tốt hơn cho cuộc sống trong thế giới thực và thách thức quan điểm cho rằng học sinh là người tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho DHDA (Richard, J.), và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm.
Ban đầu phương pháp dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội. Hiện nay phương pháp dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển [20]. Theo ý tưởng của Dewey rằng việc học tập sẽ thú vị hơn đối với những sinh viên tích cực tham gia, chúng tôi thấy nguồn gốc của các thành phần học tập theo dự án như sự lựa chọn của sinh viên, bày tỏ và tính thực tiễn. William Heard Kilpatrick, một học trò của John Dewey, đã phát triển mô hình dự án vào đầu những năm 1900.
Bác sĩ và chuyên gia phát triển trẻ em người Ý, Maria Montessori, đã phát động một phong trào quốc tế dựa trên quan điểm rằng trẻ nhỏ học tốt nhất thông qua trải nghiệm. Quan điểm “học tập tại chỗ” của Jean Piaget, một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, ủng hộ việc thu hút học sinh tham gia vào việc học của họ hơn là cố gắng bắt họ thu nhận kiến thức thông qua việc ghi nhớ [6]. Vào những năm 1960, Đại học McMaster ở Canada đã triển khai một phương pháp học tập dựa trên dự án sẽ được áp dụng như một phương pháp thực hành tiêu chuẩn trong các trường y khoa. Các ngành khác như kỹ thuật, kinh tế và luật đã sớm bắt đầu sử dụng các chiến lược này để đào tạo sinh viên của họ đối phó với các tình huống và vấn đề thực tế.
Một số trường K-12 (từ bậc tiểu học đến trung học) bắt đầu áp dụng phương pháp học tập dựa trên dự án vào những năm 1980. 6 Trong thế kỷ XXI, học tập dựa trên dự án đã trở nên tinh vi hơn như một phương pháp giảng dạy cho giáo dục K-12. Một môi trường học tập dựa trên dự án thu hút học sinh học thực hành, mang lại cho học sinh nhiều lựa chọn hơn trong những gì họ học và đặt học sinh tự chịu trách nhiệm về quá trình học tập của họ. Các nghiên cứu tại Đại học Stanford và Vanderbilt đã chỉ ra rằng học sinh tại các trường sử dụng phương pháp học tập dựa trên dự án tốt hơn học sinh từ các trường truyền thống về toán, giải quyết vấn đề và lập kế hoạch [10].
Mặc dù chỉ có một số ít trường học áp dụng đầy đủ phương pháp học tập dựa trên dự án, nhưng phương pháp này hy vọng sẽ tiếp tục phát triển và phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Krajcik and Phyllis C. Blumenfeld (2006) trong The Cambridge Handbook of the Learning Sciences (Tạm dịch là: Cẩm nang Khoa học Học tập của Cambridge) đã chỉ ra rằng: Học tập theo dự án cho phép học sinh học bằng cách học sinh có thể làm và áp dụng các ý tưởng của mình vào cuộc sống. Học sinh tham gia vào các hoạt động thực tế giống như các hoạt động của các chuyên gia.
Theo Remziye Ergül và Elif Keskin Kargınb (2014) trong The Effect Of Project Based Learning On Students’ Science Success (Tạm dịch là: Hiệu quả của việc học tập theo dự án đối với thành công môn khoa học của học sinh), dạy học theo dự án là một trong những phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm được sử dụng phổ biến trên thế giới. Đây là một trong những phương pháp giúp học sinh có cơ hội tham gia vào môi trường học tập, có khả năng tự chịu trách nhiệm trong quá trình học tập. Ngoài ra, dạy học theo dự án còn phát triển khả năng sáng tạo của học sinh, học sinh thích giải quyết các vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Các tác giả Vicki-Lynn Holmes và Yooyeun Hwang (2014) với Exploring the effects of project-based learning in secondary mathematics education (tạm dịch là: Khám phá tác dụng của việc học tập theo dự án trong DHTDAcấp trung học), học tập theo dự án có vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng học tập môn toán của học sinh trung học và đề ra các động cơ để học tập.
Trong The Seven Steps of Project Based Learning Model to Enhance Productive Competences of Vocational Students (tạm dịch là: Bảy bước của Mô 7 hình học tập theo dự án nhằm nâng cao năng lực và năng suất của học sinh), Nizwardi Jalinus và cộng sự (2017) cho rằng, để thực hiện có hiệu quả và nâng cao năng lực hoạt động học tập theo dự án, người giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hiện 7 bước: Bước 1: Xây dựng kết quả học tập mong đợi. Bước 2: Hiểu được các khái niệm về tài liệu giảng dạy. Bước 3: Đào tạo kỹ năng cho học sinh. Bước 4: Thiết kế chủ đề dự án.
Bước 5: Lập đề xuất dự án. Bước 6: Thực hiện các nhiệm vụ của dự án. Bước 7: Trình bày báo cáo dự án. Nhìn lại qua nhiều thế kỷ, chúng ta thấy rằng các thành phần cơ bản được tìm thấy trong học tập dựa trên dự án ngày nay có nguồn gốc sâu xa trong suy nghĩ và công việc của một số triết gia và nhà giáo dục trong quá khứ.
Các khái niệm như tính xác thực, sự phản ánh, sự truy vấn bền vững, sự bày tỏ và sự lựa chọn của học sinh có thể truy ngược thời gian là những công cụ mạnh mẽ trong lớp học thế kỷ XXI. Tình hình nghiên cứu trong nước Dạy học theo dự án là một trong những phương pháp dạy học hiện đại, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường đã sử dụng thuật ngữ dạy học theo dự án trong bài viết “Dạy học Project hay dạy học theo dự án”. Trong bài “Dạy học theo dự án - Một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên”, tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo đã trình bày một số đặc điểm của dạy học theo dự án, cấu trúc, phân loại, ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án.
Trong bài “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện”, tác giả Đỗ Hương Trà đã đưa ra cách tiếp cận dự án trong dạy học và tiến trình thực hiện dạy học theo dự án (Nguyễn Văn Cường, 2006). Ngoài ra, các vấn đề cơ bản của dạy học theo dự án cũng được trình bày trong Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học của Dự án Việt – Bỉ cũng đề cập đến vấn đề này. 8 Ở Việt Nam, trong lĩnh vực lí luận, DHTDA cũng bước đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối của thế kỉ XX. Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường thực hiện bài viết mang tính chuyên khảo bước đầu về DHTDA.
Cùng với sự tăng cường hợp tác quốc tế, DHTDA cũng được giới thiệu và vận dụng trong giáo dục phổ thông và đào tạo đại học. Các chương trình bồi dưỡng GV về ứng dụng công nghệ thông tin do một số tập đoàn máy tính như Intel, Microsoft hoặc do Unesco tổ chức đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá việc sử dụng phương pháp dự án ở Việt Nam.