Dạy Học Phát Hiện và Giải Quyết Vấn Đề Toán 10: Chủ Đề Tọa Độ Mặt Phẳng (Luận Văn Thạc Sĩ)

Dạy học giải quyết vấn đề lớp 10 với phương pháp tọa độ Oxy tại trung tâm GDTX. Bài viết chia sẻ kinh nghiệm thực tế, giúp học sinh nắm vững kiến thức.

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu

1.4. Khách thể nghiên cứu

1.5. Đối tương nghiên cứu

1.6. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Câu hỏi nghiên cứu

1.8. Giả thuyết khoa học

1.9. Phương pháp nghiên cứu:

1.10. Đóng góp mới của đề tài

1.11. Cấu trúc luận văn

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.1.1. Những khái niệm cơ bản

1.1.2. Các hình thức và cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.1.3. Những ưu điểm, nhược điểm khi dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.2. Đặc điểm học Toán của học sinh học tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

1.2.1. Đặc điểm của học sinh trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên trong học tập môn Toán

1.2.2. Nguyên nhân của HS trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên học chưa tốt môn Toán

1.2.3. Đặc điểm của chương trình môn Toán được dạy ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

1.2.4. Đặc điểm các điều kiện dạy học

1.3. Đặc điểm và yêu cầu dạy học chủ đề “ Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”

1.3.1. Đặc điểm của chủ đề “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”

1.3.2. Yêu cầu dạy học chủ đề “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng”

1.3.3. Kế hoạch dạy học chủ đề phương pháp toạ độ trong mặt phẳng ở lớp 10 tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

1.4. Thực trạng việc dạy học chủ đề “Phương pháp toạ độ trong mặt phẳng” trong môn Toán ở lớp 10 tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

1.4.1. Tình hình giảng dạy

1.4.2. Tình hình học tập

1.5. Kết luận chương 1

2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM VẬN DỤNG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “PHƯƠNG PHÁP TOẠ ĐỘ TRONG MẶT PHẲNG” CHO HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP- GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THEO HƯƠNG

2.1. PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1.1. Một số định hướng khi đề xuất các biện pháp

2.1.2. Tôn trọng, bám sát, tập trung nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa Hình học 10

2.1.3. Đảm bảo tính vừa sức và tính quá trình của việc khắc phục tình trạng học Toán tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

2.1.4. Phối hợp phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề với những biện pháp hỗ trợ nhằm khắc phục tình trạng học Toán tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

2.2. Một số biện pháp sư phạm vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề vào dạy học chủ đề “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” cho học sinh tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên

2.2.1. Biện pháp 1: Tăng cường khơi dậy lại các kiến thức đã học trong khi gợi động cơ học tập của học sinh

2.2.2. Biện pháp 2: Chú trọng việc phân bậc hoạt động trong quá trình hướng dẫn HS phát hiện và giải quyết vấn đề

2.2.3. Biện pháp 3: Chú trọng dạy học tri thức phương pháp, thuật giải và rèn luyện kĩ năng cho học sinh

2.2.4. Biện pháp 4: Quan tâm hơn nữa việc hướng dẫn học sinh phương pháp học trên lớp và cách tự học ở nhà

2.3. Kết luận chương 2

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm

3.3. Đối tượng thực nghiệm

3.4. Phương pháp thực nghiệm

3.5. Tổ chức thực nghiệm

3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.6.1. Đánh giá định tính

3.6.2. Đánh giá định lượng

3.7. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tọa Độ Mặt Phẳng Lớp 10 Khái Niệm Ứng Dụng

Chương trình Toán 10 giới thiệu tọa độ mặt phẳng, một công cụ mạnh mẽ để giải quyết các bài toán hình học bằng phương pháp đại số. Tọa độ điểm trong mặt phẳng cho phép biểu diễn các đối tượng hình học như điểm, đường thẳng, đường tròn, elip dưới dạng các phương trình. Việc chuyển đổi từ hình học sang đại số và ngược lại giúp học sinh có cái nhìn đa chiều về bài toán, từ đó tìm ra lời giải hiệu quả hơn. Nắm vững kiến thức về tọa độ mặt phẳng là nền tảng quan trọng để học sinh tiếp tục học tập các môn toán cao cấp hơn ở các lớp sau, cũng như ứng dụng vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến năm 2024, việc dạy học phương pháp tọa độ cần chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. "Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học tích cực được ưa chuộng nhất. Phương pháp này giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo." (Nguyễn Thị Yến, 2024). Giáo viên cần tạo ra các tình huống gợi mở để học sinh tự khám phá và xây dựng kiến thức. Hệ trục tọa độ Oxy là khung tham chiếu cơ bản, từ đó xây dựng các khái niệm về vector trong mặt phẳng, tích vô hướng của hai vector, phương trình đường thẳng, phương trình đường tròn, phương trình elip. Các bài toán thường gặp liên quan đến tính khoảng cách, góc, xác định vị trí tương đối, tìm điểm thỏa mãn điều kiện cho trước. Giải toán bằng phương pháp tọa độ đòi hỏi kỹ năng biến đổi đại số thành thạo và khả năng hình dung không gian tốt.

1.1. Giới thiệu Hệ Trục Tọa Độ Oxy Nền Tảng Của Tọa Độ Phẳng

Hệ trục tọa độ Oxy, hay còn gọi là hệ trục Descartes, bao gồm hai trục số vuông góc với nhau tại gốc tọa độ O. Trục Ox là trục hoành, trục Oy là trục tung. Mỗi điểm M trên mặt phẳng được xác định duy nhất bởi một cặp số (x; y), gọi là tọa độ vecto của M. x là hoành độ, y là tung độ. Việc sử dụng hệ trục tọa độ Oxy cho phép biểu diễn các đối tượng hình học dưới dạng các phương trình đại số, mở ra khả năng giải quyết các bài toán hình học bằng các phương pháp đại số. Tọa độ điểm trong mặt phẳng là khái niệm cơ bản, cần được nắm vững trước khi học các nội dung phức tạp hơn.

1.2. Vector Trong Mặt Phẳng Định Nghĩa Tính Chất Ứng Dụng

Một vector trong mặt phẳng được xác định bởi một điểm đầu và một điểm cuối. Tọa độ vector được tính bằng hiệu tọa độ của điểm cuối và điểm đầu. Vector có nhiều ứng dụng trong hình học, chẳng hạn như biểu diễn lực, vận tốc, hoặc dùng để chứng minh các tính chất hình học. Ứng dụng của vector trong giải toán là một phần quan trọng trong chương trình Toán 10. Tích vô hướng của hai vector là một số vô hướng, liên quan đến độ dài của hai vector và góc giữa chúng. Công thức tọa độ mặt phẳng để tính tích vô hướng rất hữu ích trong việc giải các bài toán về góc và khoảng cách.

II. Khó Khăn Thường Gặp Giải Quyết Bài Tập Tọa Độ Mặt Phẳng

Học sinh thường gặp nhiều khó khăn khi học tọa độ mặt phẳng. Một trong những khó khăn đó là việc chuyển đổi giữa hình học và đại số. Học sinh cần phải có khả năng hình dung không gian tốt để biểu diễn các đối tượng hình học dưới dạng các phương trình, đồng thời phải có kỹ năng biến đổi đại số thành thạo để giải các phương trình đó. Một khó khăn khác là việc lựa chọn phương pháp giải phù hợp. Có nhiều phương pháp khác nhau để giải một bài toán tọa độ mặt phẳng, và việc lựa chọn phương pháp nào hiệu quả nhất đòi hỏi kinh nghiệm và tư duy linh hoạt. Theo Nguyễn Thị Yến (2024), học sinh ở các trung tâm giáo dục thường xuyên thường có kiến thức nền tảng yếu, do đó việc tiếp thu kiến thức mới sẽ khó khăn hơn. "Thực tiễn tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên Quốc Oai cho thấy phần lớn học sinh có chất lượng đầu vào thấp. Kiến thức của các em còn rất hạn chế, đặc biệt ở môn Toán." (Nguyễn Thị Yến, 2024). Để giúp học sinh vượt qua những khó khăn này, giáo viên cần có phương pháp dạy học phù hợp, chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng biến đổi đại số, kỹ năng hình dung không gian, và kỹ năng lựa chọn phương pháp giải.

2.1. Thiếu Hụt Kiến Thức Nền Tảng Lý Thuyết Tọa Độ Mặt Phẳng

Nhiều học sinh thiếu hụt kiến thức nền tảng về các khái niệm cơ bản như tọa độ điểm trong mặt phẳng, vector trong mặt phẳng, tích vô hướng của hai vector. Việc không nắm vững những khái niệm này sẽ gây khó khăn trong việc tiếp thu các kiến thức nâng cao hơn. Giáo viên cần dành thời gian để ôn tập và củng cố kiến thức nền tảng cho học sinh trước khi bắt đầu dạy các nội dung mới.

2.2. Kỹ Năng Biến Đổi Đại Số Kém Giải Phương Trình Đường Thẳng Đường Tròn

Kỹ năng biến đổi đại số là một yếu tố quan trọng để giải các bài toán tọa độ mặt phẳng. Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc giải các phương trình đường thẳng, phương trình đường tròn, phương trình elip. Giáo viên cần rèn luyện kỹ năng biến đổi đại số cho học sinh thông qua các bài tập đa dạng và phong phú. Theo kinh nghiệm giảng dạy, cần cho các em làm quen từ những bài tập đơn giản đến phức tạp.

2.3. Tư Duy Hình Học Hạn Chế Khó Hình Dung Giải Bài Tập Trắc Nghiệm Tọa Độ Phẳng

Việc khó hình dung các đối tượng và quan hệ hình học trong mặt phẳng tọa độ khiến học sinh gặp khó khăn, đặc biệt với các bài tập trắc nghiệm tọa độ mặt phẳng đòi hỏi nhanh nhạy. Cần khuyến khích học sinh vẽ hình minh họa, sử dụng phần mềm hỗ trợ để tăng cường khả năng hình dung không gian.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Dạy Giải Quyết Vấn Đề Toán 10

Để giúp học sinh vượt qua những khó khăn khi học tọa độ mặt phẳng, cần áp dụng phương pháp dạy học dạy giải quyết vấn đề toán 10. Phương pháp này tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Thay vì truyền đạt kiến thức một cách thụ động, giáo viên tạo ra các tình huống gợi mở để học sinh tự khám phá và xây dựng kiến thức. Học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết, và thử nghiệm các giải pháp khác nhau. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến (2024), việc áp dụng phương pháp dạy học dạy giải quyết vấn đề giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập.

3.1. Xây Dựng Tình Huống Gợi Mở Phát Huy Tư Duy Sáng Tạo

Giáo viên cần tạo ra các tình huống gợi mở để học sinh tự khám phá và xây dựng kiến thức. Tình huống gợi mở nên liên quan đến các vấn đề thực tế hoặc các bài toán quen thuộc. Chẳng hạn, giáo viên có thể đặt câu hỏi về cách xác định vị trí của một điểm trên bản đồ, hoặc cách tìm đường đi ngắn nhất giữa hai điểm.

3.2. Khuyến Khích Học Sinh Đặt Câu Hỏi Tư Duy Phản Biện

Giáo viên cần khuyến khích học sinh đặt câu hỏi về các khái niệm, định lý, và phương pháp giải. Việc đặt câu hỏi giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức và phát triển tư duy phản biện. Học sinh nên được khuyến khích đặt câu hỏi "tại sao" và "như thế nào" thay vì chỉ tập trung vào việc ghi nhớ công thức.

3.3. Lựa Chọn Phương Pháp Tối Ưu Phương Pháp Giải Bài Tập Tọa Độ Phẳng

Hướng dẫn học sinh cách phân tích bài toán, xác định yêu cầu và lựa chọn phương pháp giải bài tập tọa độ mặt phẳng phù hợp (ví dụ: sử dụng vector, phương trình đường thẳng, phương trình đường tròn...). Khuyến khích học sinh thử nghiệm nhiều cách giải khác nhau để tìm ra phương pháp tối ưu.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Liên Hệ Tọa Độ Địa Lý Hình Học Giải Tích

Để tăng tính hấp dẫn và thực tiễn của tọa độ mặt phẳng, cần liên hệ kiến thức với các ứng dụng thực tế. Tọa độ địa lý là một ví dụ điển hình, giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc xác định vị trí trong không gian. Hình học giải tích là một lĩnh vực toán học sử dụng tọa độ mặt phẳng để nghiên cứu các đối tượng hình học. Việc giới thiệu hình học giải tích giúp học sinh thấy được sự kết nối giữa hình học và đại số, và mở rộng tầm nhìn về ứng dụng của tọa độ mặt phẳng. Theo Nguyễn Thị Yến (2024), việc dạy học cần gắn liền với thực tiễn để giúp học sinh hiểu rõ hơn về kiến thức và tăng hứng thú học tập.

4.1. Tọa Độ Địa Lý Xác Định Vị Trí Trên Trái Đất

Tọa độ địa lý sử dụng hai góc: vĩ độ và kinh độ để xác định vị trí của một điểm trên bề mặt Trái Đất. Vĩ độ là góc giữa đường thẳng nối điểm đó với tâm Trái Đất và mặt phẳng xích đạo. Kinh độ là góc giữa mặt phẳng chứa đường kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng chứa kinh tuyến gốc (kinh tuyến Greenwich). Việc hiểu về tọa độ địa lý giúp học sinh liên hệ kiến thức tọa độ mặt phẳng với thực tế cuộc sống.

4.2. Hình Học Giải Tích Nghiên Cứu Bằng Phương Pháp Tọa Độ

Hình học giải tích là một lĩnh vực toán học sử dụng phương pháp tọa độ để nghiên cứu các đối tượng hình học. Các bài toán trong hình học, như chứng minh các tính chất, tính diện tích, thể tích, có thể được giải quyết bằng các phương pháp đại số thông qua tọa độ mặt phẳng.

V. Thực Nghiệm Đánh Giá Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Toán 10

Việc thực nghiệm các phương pháp dạy học mới và đánh giá hiệu quả là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học toán 10, đặc biệt là trong chủ đề tọa độ mặt phẳng. Thực nghiệm giúp giáo viên kiểm tra tính khả thi của các phương pháp, đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh, và điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp. Đánh giá hiệu quả dạy học cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm điểm số, mức độ tham gia của học sinh, và khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán thực tế. Theo Nguyễn Thị Yến (2024), việc thực nghiệm sư phạm là cần thiết để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

5.1. Thiết Kế Bài Kiểm Tra Đánh Giá Năng Lực

Các bài kiểm tra cần được thiết kế để đánh giá năng lực của học sinh về các kiến thức cơ bản, kỹ năng giải toán, và khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán thực tế. Bài kiểm tra nên bao gồm cả câu hỏi trắc nghiệm và câu hỏi tự luận để đánh giá toàn diện năng lực của học sinh.

5.2. Phân Tích Kết Quả Điều Chỉnh Phương Pháp Dạy

Sau khi thực hiện bài kiểm tra, cần phân tích kết quả để đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh và xác định những điểm yếu cần khắc phục. Dựa trên kết quả phân tích, giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với trình độ và nhu cầu của học sinh.

VI. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Kỹ Năng Giải Toán Cho Học Sinh

Tọa độ mặt phẳng là một chủ đề quan trọng trong chương trình Toán 10, có nhiều ứng dụng trong thực tế và là nền tảng cho các môn toán cao cấp hơn. Để giúp học sinh học tốt chủ đề này, cần áp dụng phương pháp dạy học tích cực, chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng biến đổi đại số, kỹ năng hình dung không gian, và kỹ năng lựa chọn phương pháp giải. Đồng thời, cần liên hệ kiến thức với các ứng dụng thực tế để tăng tính hấp dẫn và thực tiễn của môn học. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học mới, sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc dạy và học, và tạo ra môi trường học tập thân thiện và khuyến khích sự sáng tạo.

6.1. Tiếp Tục Nghiên Cứu Cải Tiến Phương Pháp Giảng Dạy

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy mới, tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, và kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Nghiên cứu nên tập trung vào việc tìm ra các phương pháp giúp học sinh vượt qua những khó khăn thường gặp khi học tọa độ mặt phẳng.

6.2. Ứng Dụng Công Nghệ Hỗ Trợ Dạy Học Toán

Sử dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy, các ứng dụng học tập trực tuyến, và các tài liệu đa phương tiện để tăng tính tương tác và hấp dẫn của môn học. Các công cụ này có thể giúp học sinh hình dung không gian tốt hơn, rèn luyện kỹ năng giải toán, và tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng hơn. Cần có những bài giảng điện tử sáng tạo.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Một số biện pháp sư phạm dạy học chủ đề “Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng” cho học sinh lớp 10 tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày những kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu cũng như thực nghiệm và nêu một số ý kiến đề xuất. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 1.

Cơ sở lí luận - Cơ sở triết học: Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực thúc đẩy quá trình phát triển của mọi sự vật và hiện tượng. Trong quá trình học tập của HS luôn luôn xuất hiện mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa tri thức và kinh nghiệm sẵn có của bản thân với yêu cầu nhiệm vụ nhận thức để giải quyết những nhiệm vụ nhận thức vừa mới đặt ra. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học mà ở đó người giáo viên tạo ra cho học sinh những tình huống có vấn đề (những mâu thuẫn) và học sinh sẽ chủ động, tích cực suy nghĩ để giải quyết vấn đề. Sự tích cực hoạt động tư duy của học sinh là một yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của bản thân người học.

Do đó người thầy cần phải bồi dưỡng và phát huy được cao độ năng lực tư duy tích cực của trò trong quá trình dạy học. Phương pháp này đã vận dụng một khái niệm về mâu thuẫn làm cơ sở khoa học cho mình.[7] -Cơ sở tâm lí học: Theo các nhà tâm lí học thì con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, nghĩa là tư duy của con người nảy sinh, phát triển để đạt được kết quả cao nhất ở nơi xuất hiện vấn đề cần khắc phục, giải quyết. Như vậy, ta thấy phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lí luận của tâm lí học về quá trình tư duy và về đặc điểm tâm lí học lứa tuổi.[7] Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình mà thầy đưa trò đến một trở ngại nào đó mà trở ngại này gây ra sự ngạc nhiên, hứng thú, có nhu cầu khám phá và chờ đợi kết quả. Nếu tích cực hoạt động trên giới hạn bản thân một chút sẽ vượt qua trở ngại này.

Học sinh có thể suy nghĩ độc lập hoặc dưới sự dẫn dắt của người giáo viên để đi đến kết quả. Và kết quả của 8 việc nghiên cứu, suy nghĩ trên đó là tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới. Do đó mà ta thấy rõ ràng tình huống có vấn đề xuất hiện và được giải quyết thông qua sự tích cực hoạt động của người học. Quá trình nhận thức luôn thực hiện nhờ tư duy mà tư duy về bản chất lại là sự nhận thức dẫn đến phát hiện và giải quyết vấn đề, nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người.

Vì vậy ở đâu có vấn đề thì ở đó có tư duy. Theo tâm lí học kiến tạo, học tập chủ yếu là một quá trình trong đó người học xây dựng tri thức cho mình bằng cách liên hệ những cảm nghiệm mới với những tri thức đã có. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề phù hợp với quan điểm này. - Cơ sở giáo dục học: Theo điều 5 luật Giáo Dục năm 2005 quyết định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo cho người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng tự thực hành, lòng say mê học và ý chí vươn lên”.

Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề khơi gợi được hoạt động học tập mà chủ thể được hướng đích, gợi động cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề do đó mà nó phù hợp với phương pháp giáo dục của nước ta. Kiểu dạy học này giúp học sinh vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó, lại vừa phát triển tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo và có tiềm năng vận dụng tri thức vào những tình huống mới, chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh cả trong học tập và trong cuộc sống. Đồng thời nó cũng bồi dưỡng các đức tính cần thiết của con người lao động sáng tạo như tính chủ động, tích cực, cẩn thận, kiên trì, vượt khó làm việc có kế hoạch,. Những khái niệm cơ bản 1.

Vấn đề Có nhiều cách hiểu thuật ngữ “vấn đề” nhưng hiểu theo nghĩa dùng trong 9 giáo dục toán học thì vấn đề là bài toán mà chủ thể chưa biết ít nhất một phần tử của khách thể, mong muốn tìm phần tử chưa biết đó dựa vào những phần tử biết trước nhưng chưa có trong tay thuật giải. Tình huống gợi vấn đề Có nhiều cách phát biểu có những điểm khác biệt về tình huống gợi vấn đề (tình huống vấn đề) của các nhà giáo dục học như: I.Makhmutov, giáo sư Trần Bá Hoành, giáo sư Nguyễn Bá Kim,. nhưng tất cả đều thống nhất tình huống vấn đề là tình huống thỏa mãn ba điều kiện sau: + Tồn tại một vấn đề: Đây là vấn đề trung tâm của tình huống. Tình huống phải chứa đựng một mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa trình độ kiến thức sẵn có của bản thân với yêu cầu lĩnh hội kiến thức, kĩ năng mới.

Hay nói cách khác, tình huống có vấn đề là tình huống mà học sinh phải nhận ra được có ít nhất một phần tử nào đó của khách thể mà học sinh chưa biết và cũng chưa có thuật giải nào để tìm phần tử đó.[7] + Gợi nhu cầu nhận thức: Tình huống có vấn đề là tình huống phải chứa đựng một vấn đề tạo ra sự ngạc nhiên, hứng thú, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của học sinh. Hay nói cách khác là phải gợi nhu cầu nhận thức ở học sinh, làm cho học sinh cảm thấy cần thiết phải giải quyết. Chẳng hạn tình huống phải bộc lộ sự khiếm khuyết về kiến thức, kĩ năng để họ thấy cần thiết phải chiếm lĩnh tri thức để lấp đầy những khoảng trống đó nhằm tự hoàn thiện hiểu biết của mình bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh. Nếu tình huống đưa ra nhưng không khơi dậy ở học sinh nhu cầu phải tìm hiểu, họ cảm thấy xa lạ và không liên quan gì đến mình thì cũng chưa được gọi là một tình huống có vấn đề.[7] + Khơi dậy niềm tin ở khả năng bản thân: Tình huống có vấn đề phải phù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh, nó không được vượt quá xa tầm hiểu biết của học sinh vì nếu như vậy thì học 10 sinh sẽ thấy hoang mang, bế tắc, không sẵn sàng tham gia giải quyết vấn đề; còn nếu tình huống quá dễ thì học sinh không cần suy nghĩ mà cũng có thể giải quyết được vấn đề thì yêu cầu của giờ học không được thỏa mãn.[7] Tình huống cần khơi dậy ở học sinh cảm nghĩ là tuy họ chưa có ngay lời giải nhưng bằng kiến thức sẵn có của chính mình cùng với sự tích cực suy nghĩ thì sẽ có hi vọng giải quyết được vấn đề đó.

Với suy nghĩ đó học sinh sẽ tận lực huy động tri thức và kĩ năng sẵn có liên quan đến vấn đề đó của bản thân để giải quyết vấn đề đặt ra. Qua đó tạo cho học sinh niềm tin vào khả năng của bản thân, đây chính là yêu cầu quan trọng của tình huống gợi vấn đề. Đặc điểm của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề người thầy không đọc bài giảng cho học sinh viết, giải thích hoặc nỗ lực chuyển tải kiến thức đến cho học sinh mà là người tạo ra tình huống gợi vấn đề cho học sinh, thiết lập các tình huống và cấu trúc cần thiết cho học sinh, điều khiển học sinh phát hiện ra vấn đề dựa trên hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của chính bản thân người học. Người thầy là người xác nhận kiến thức, thể chế hóa kiến thức cho học sinh.

Thông qua đó học sinh tiếp nhận được tri thức mới, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác. Phương pháp dạy học này mang tính chất khác hẳn về nguyên tắc so với phương pháp dạy học giải thích - minh họa. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có ba đặc điểm sau đây: - Học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề do thầy giáo tạo ra chứ không phải là tiếp thu kiến thức một cách thụ động do người khác áp đặt lên mình. - Học sinh hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo, chủ động, tận lực huy động tất cả các kiến thức mà mình biết để hi vọng giải quyết được vấn đề đặt ra chứ không phải là tiếp thu kiến thức một cách thụ động theo thói quen “thầy giảng, trò ghi”, “thầy đọc, trò chép”.

Thông qua những hoạt động và những yêu cầu của người giáo viên, học sinh tham gia xây dựng bài toán, giải quyết bài toán đó. Học sinh là chủ thể sáng tạo ra hoạt động. 11 Mục tiêu dạy học không phải là chỉ làm cho học sinh nắm được tri thức mới tìm được trong quá trình tham gia vào giải quyết vấn đề mà còn giúp cho học sinh nắm được phương pháp đi tới tri thức đó và biết cách vận dụng phương pháp đó vào các quá trình như vậy. Biết khai thác từ một bài toán đã biết để giải quyết bài toán mới, biết vận dụng quy trình cho những bài toán cùng dạng.

Như vậy: Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh trong đó dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, học sinh nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề. Các hình thức và cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Các dạng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề: Theo I. Lerner [5], dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể có ba dạng sau: - Dạng 1: Giáo viên tổ chức hoạt động tìm tòi sáng tạo cho học sinh bằng cách đặt ra chương trình hoạt động và kiểm tra uốn nắn quá trình đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ