Luận án về dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học theo phương pháp học bằng làm

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luận án dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng là, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Công nghiệp Hà Nội

Chuyên ngành

Kỹ thuật cơ khí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2018

176
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC KĨ THUẬT CƠ KHÍ Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN HỌC BẰNG LÀM

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Những nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận học bằng làm

1.3. Những nghiên cứu về dạy học kĩ thuật theo tiếp cận học bằng làm

1.4. Những khái niệm công cụ

1.5. Học bằng làm

1.6. Dạy học kĩ thuật cơ khí

1.7. Dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

1.8. Xây dựng mô hình học bằng làm trong dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học

1.9. Cách tiếp cận học bằng làm

1.10. Mô hình học bằng làm trong dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học

1.11. Những vấn đề chung về dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng làm

1.12. Một số phương pháp dạy học theo tiếp cận học bằng làm

1.13. Động lực học tập của sinh viên kĩ thuật cơ khí có tác động đến dạy học theo tiếp cận học bằng làm

1.14. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA DẠY HỌC KĨ THUẬT CƠ KHÍ Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN HỌC BẰNG LÀM

2.1. Mục đích khảo sát

2.2. Thiết kế phương pháp khảo sát

2.3. Đối tượng và địa bàn khảo sát

2.4. Nội dung, công cụ và quy mô khảo sát

2.5. Phương thức tiến hành và kĩ thuật xử lí số liệu

2.6. Kết quả khảo sát và thảo luận

2.6.1. Mức độ sử dụng học bằng làm so với các kiểu học tập khác trong dạy học kĩ thuật cơ khí

2.6.2. Sự thể hiện vai trò của giảng viên trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

2.6.3. Mức độ các hoạt động học tập chủ động của sinh viên trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

2.6.4. Các nội dung học tập của sinh viên trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

2.6.5. Các đặc điểm của dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm cho sinh viên

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH THIẾT KẾ DẠY HỌC KĨ THUẬT CƠ KHÍ Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN HỌC BẰNG LÀM

3.1. Nhiệm vụ 1: Phân tích chương trình đào tạo đại học ngành kĩ thuật cơ khí (minh họa tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội)

3.1.1. Cấu trúc chương trình

3.1.2. Định hướng lựa chọn nội dung kĩ thuật cơ khí thích hợp với học bằng làm

3.2. Nhiệm vụ 2: Thiết kế nhiệm vụ kĩ thuật cơ khí trong dạy học theo tiếp cận học bằng làm

3.2.1. Tiêu chí chung của các nhiệm vụ kĩ thuật cơ khí

3.2.2. Thiết kế nhiệm vụ chế tạo và vận hành kĩ thuật cơ khí dưới dạng nghiên cứu trường hợp

3.2.2.1. Ý nghĩa của nghiên cứu trường hợp trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm
3.2.2.2. Quy trình thiết kế nghiên cứu trường hợp trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm
3.2.2.3. Minh họa thiết kế nhiệm vụ kĩ thuật trong “Bài 5: Tiện trụ bậc” – học phần “Thực hành cắt gọt 1”

3.2.3. Thiết kế nhiệm vụ thiết kế kĩ thuật cơ khí dưới dạng dự án học tập trải nghiệm

3.2.3.1. Ý nghĩa của dự án học tập trải nghiệm (Experiential learning project) trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm
3.2.3.2. Quy trình thiết kế dự án học tập trải nghiệm trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm
3.2.3.3. Minh họa thiết kế dự án học tập trải nghiệm trong học phần “Đồ án công nghệ chế tạo máy”

3.3. Nhiệm vụ 3: Thiết kế chiến lược dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

3.3.1. Thiết kế dạy học chế tạo và vận hành kĩ thuật cơ khí dựa vào nghiên cứu trường hợp. Cách tiếp cận

3.3.2. Thiết kế hoạt động dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp

3.3.3. Minh họa thiết kế hoạt động dạy học “Bài 5: Tiện trụ bậc” – học phần Thực hành cắt gọt 1

3.3.4. Thiết kế dạy học thiết kế kĩ thuật cơ khí dựa vào dự án học tập trải nghiệm. Cách tiếp cận dạy học

3.3.5. Thiết kế hoạt động dạy học dựa vào dự án học tập trải nghiệm. Minh họa thiết kế hoạt động dạy học “Đồ án công nghệ chế tạo máy”

3.4. Nhiệm vụ 4: Thiết kế đánh giá kết quả học tập trong dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm

3.4.1. Định hướng các tiêu chí đánh giá

3.4.2. Quy trình xây dựng công cụ đánh giá

3.4.3. Minh họa xây dựng công cụ đánh giá

3.4.4. Minh họa thiết kế công cụ đánh giá cho “Bài 5: Tiện trụ bậc” – học phần Thực hành cắt gọt 1

3.4.5. Minh họa thiết kế công cụ đánh giá trong “Đồ án công nghệ chế tạo máy”

3.5. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

4.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu bằng phương pháp chuyên gia

4.1.1. Thiết kế phương pháp chuyên gia

4.1.2. Kết quả phương pháp chuyên gia

4.2. Thực nghiệm sư phạm

4.2.1. Mục đích thực nghiệm

4.2.2. Thiết kế thực nghiệm

4.2.3. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm

4.2.4. Nội dung, tài liệu, giảng viên tham gia thực nghiệm và công cụ đo lường kết quả thực nghiệm

4.2.5. Đánh giá quá trình học tập của sinh viên

4.2.6. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

4.2.7. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.2.7.1. Về dạy học chế tạo và vận hành kĩ thuật cơ khí
4.2.7.2. Về dạy học thiết kế kĩ thuật cơ khí
4.2.7.3. Hiệu quả của quy trình thiết kế dạy học kĩ thuật cơ khí theo tiếp cận học bằng làm đến quá trình học tập của sinh viên

4.3. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng làm

Chương này tập trung vào việc phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến kỹ thuật cơ khíphương pháp học bằng làm. Dạy học kỹ thuật cơ khí không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức lý thuyết mà còn phải chú trọng đến việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc xây dựng mô hình học bằng làm trong dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học là cần thiết để sinh viên có thể thực hành và trải nghiệm thực tế. Theo quan điểm của John Dewey, học bằng làm là một phương pháp giáo dục tiến bộ, nơi người học tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động thực tiễn. Điều này giúp sinh viên phát triển kỹ năng cơ khí và khả năng giải quyết vấn đề trong môi trường thực tế.

1.1. Những khái niệm công cụ

Khái niệm học bằng làm được định nghĩa là một phương pháp học tập mà trong đó sinh viên tham gia vào các hoạt động thực tiễn để tiếp thu kiến thức. Dạy học kỹ thuật cơ khí theo phương pháp này yêu cầu giảng viên thiết kế các nhiệm vụ thực tế, giúp sinh viên có cơ hội áp dụng lý thuyết vào thực hành. Mô hình học bằng làm trong dạy học kỹ thuật cơ khí cần phản ánh các nhiệm vụ kỹ thuật thực tế mà kỹ sư cơ khí thường gặp. Việc này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng thực hành cần thiết cho nghề nghiệp tương lai.

1.2. Cách tiếp cận học bằng làm

Cách tiếp cận học bằng làm trong dạy học kỹ thuật cơ khí nhấn mạnh vai trò của sinh viên trong việc khám phá và thực hành. Giảng viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn, tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật. Điều này giúp sinh viên phát triển kỹ năng tư duy phản biện và khả năng làm việc nhóm. Học bằng làm cũng khuyến khích sinh viên tự tìm tòi, nghiên cứu và giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao động lực học tập và sự tham gia của sinh viên trong quá trình học.

II. Thực trạng của dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng làm

Chương này phân tích thực trạng dạy học kỹ thuật cơ khí tại các trường đại học, đặc biệt là việc áp dụng phương pháp học bằng làm. Nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhưng việc áp dụng học bằng làm vẫn còn hạn chế. Nhiều giảng viên vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, dẫn đến việc sinh viên thiếu cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế. Điều này ảnh hưởng đến kỹ năng cơ khí và khả năng làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

2.1. Mức độ sử dụng học bằng làm

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ sử dụng học bằng làm trong dạy học kỹ thuật cơ khí còn thấp so với các phương pháp học tập khác. Nhiều giảng viên chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của phương pháp này, dẫn đến việc áp dụng không đồng bộ. Sinh viên thường chỉ được tiếp xúc với lý thuyết mà thiếu đi các hoạt động thực hành cần thiết. Điều này không chỉ làm giảm chất lượng đào tạo mà còn ảnh hưởng đến khả năng làm việc của sinh viên trong tương lai.

2.2. Vai trò của giảng viên

Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai phương pháp học bằng làm. Tuy nhiên, nhiều giảng viên vẫn còn e ngại trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy. Họ cần được đào tạo và hỗ trợ để có thể thiết kế các nhiệm vụ thực tiễn phù hợp với chương trình học. Việc giảng viên chủ động áp dụng phương pháp học bằng làm sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sinh viên tham gia và phát triển kỹ năng thực hành.

III. Quy trình thiết kế dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng làm

Chương này đề xuất quy trình thiết kế dạy học kỹ thuật cơ khí theo phương pháp học bằng làm. Quy trình này bao gồm các bước từ phân tích chương trình đào tạo đến thiết kế các nhiệm vụ kỹ thuật và đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu là nâng cao chất lượng dạy học và khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học tập.

3.1. Phân tích chương trình đào tạo

Phân tích chương trình đào tạo là bước đầu tiên trong quy trình thiết kế. Cần xác định các nội dung kỹ thuật cơ khí phù hợp với học bằng làm. Việc này giúp đảm bảo rằng các nhiệm vụ thiết kế sẽ phản ánh đúng yêu cầu thực tế của ngành. Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu thị trường lao động.

3.2. Thiết kế nhiệm vụ kỹ thuật

Thiết kế nhiệm vụ kỹ thuật là bước quan trọng trong quy trình. Các nhiệm vụ này cần được xây dựng dựa trên các tình huống thực tế mà sinh viên có thể gặp phải trong công việc. Việc này không chỉ giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tiễn mà còn phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Các nhiệm vụ cần được thiết kế sao cho sinh viên có thể làm việc nhóm, trao đổi ý tưởng và học hỏi lẫn nhau.

25/01/2025
Luận án dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng là

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC KĨ THUẬT CƠ KHÍ Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN HỌC BẰNG LÀM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận học bằng làm a) Trên thế giới Những nghiên cứu về học bằng làm đã được đề cập từ rất sớm, có thể kể đến như: - Aristotle (384-322 TCN): "Người học học được bằng cách làm và bằng cách làm, họ sẽ hiểu rõ lý thuyết." - Socrates (469-399 TCN): “Người ta phải học bằng cách làm và họ sẽ tự tin nếu được tự tay làm” - Khổng Tử (551- 479 TCN): “Tôi nghe, tôi quên. Tôi thấy, tôi nhớ.

Tôi làm, tôi hiểu” - Wang Yangming (1472-1529): “Hiểu biết là khởi đầu của làm; làm là sự hoàn thiện hiểu biết”. Tất cả các ý niệm trên cho thấy, học bằng làm là một trong những bản chất có sẵn, diễn ra tự nhiên như một điều tất yếu. Con người học mọi thứ bằng cách làm. John Dewey (1859 - 1952) - nhà triết học giáo dục Mỹ được xem là người có ảnh hưởng lớn nhất đến nền giáo dục tiến bộ ở Mỹ vào thế kỉ 20.

Năm 1896, Dewey và các đồng nghiệp đã thành lập Trường Phổ thông Thực nghiệm Giáo dục Chicago (Chicago Laboratory School of Education) nằm trong đại học Chicago do chính ông làm Hiệu trưởng. Xuyên suốt quan điểm giáo dục của Dewey là sự hiện thực hóa các tư tưởng của chủ nghĩa thực dụng (hay chủ nghĩa hành động) vào trong giáo dục [5], [7], [6], [50]. Trong trường thực nghiệm, Dewey áp dụng các tư tưởng về nền giáo dục tiến bộ coi trọng giá trị của dân 8 chủ, học bằng làm, học gắn liền với lợi ích của cuộc sống, đối lập hoàn toàn với nền giáo dục truyền thống quan niệm giáo dục là sự đào tạo từ bên ngoài, nhồi nhét các kiến thức, kỹ năng, chuẩn mực và nguyên tắc ứng xử đã có trong quá khứ cho thế hệ mới. Với hai khẩu hiệu: “giáo dục không phải là chuẩn bị cho cuộc sống, giáo dục là chính bản thân cuộc sống” và “học bằng làm” mà Dewey đưa vào trong trường thực nghiệm không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn cung cấp bài học kinh nghiệm quí giá mang ý nghĩa to lớn với nền giáo dục đương đại.

Bên cạnh quan điểm của Dewey cũng có một số cách tiếp cận khác nhau để mô tả về khái niệm “học bằng làm” nhưng về bản chất thì đều có ý nghĩa tương đồng, chỉ khác nhau về cách gọi tên (dẫn theo [14]). Trong đó, Vygotsky (1896-1934) sử dụng khái niệm “Vùng cận phát triển” (Zone of Proximal Development) để chỉ một khu vực nằm giữa năng lực giải quyết vấn đề trong quá khứ (dạng tiềm năng hay kinh nghiệm đã có) và năng lực giải quyết các vấn đề mới (mục tiêu/ kết quả), khái niệm “Nâng đỡ vừa sức” (Scaffolding) để chỉ sự hỗ trợ của giáo viên hoặc những người có kinh nghiệm hơn nhằm hỗ trợ người học hành động giải quyết vấn đề. Kurt Lewin (1890-1947) sử dụng khái niệm “Đào tạo thực nghiệm” (Laboratory Training) để nhấn mạnh vai trò của học bằng làm như là cách tiếp cận hiệu quả nhằm đem lại sự thống nhất giữa lý thuyết và thực hành. Tuy thừa nhận giá trị giáo dục to lớn của học bằng làm, nhưng dường như khái niệm này vẫn mang tính trừu tượng cao, rất khó áp dụng để thiết kế dạy học, bởi sự thiếu vắng một mô hình lý thuyết mô tả rõ khung hành vi/ hành động của người học.

Năm 1984, David A Kolb công bố nghiên cứu về “Lý thuyết học tập trải nghiệm” (Experiential Learning Theory) [58], trong đó nhấn mạnh mô hình mô tả bốn giai đoạn học tập gồm: 1/ Trải nghiệm cụ thể (experiencing), 2/ Quan sát phản ánh (reflecting), 3/ Khái niệm hóa trừu tượng (thinking), 4/ Thử 9 nghiệm tích cực (doing). Mô hình này chỉ dẫn khung hành vi của người học trong các thảo luận thiết kế dạy học theo tiếp cận học bằng làm, đồng thời nhấn mạnh đến khái niệm phong cách (kiểu) học tập (learning style) thể hiện xu hướng học tập của cá nhân và sự phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể [60], [83]. Theo đó, học bằng làm là kiểu học tập chú trọng đến quá trình áp dụng kiến thức từ giai đoạn “Khái niệm hóa trừu tượng” (thinking) sang “Thử nghiệm tích cực” (doing). Kiểu học này là phù hợp với người học về lĩnh vực kĩ thuật [57], đặc biệt là lĩnh vực kĩ thuật cơ khí (mechanical engineering) ( Hình 1.1: Định hướng các lĩnh vực học thuật theo kiểu học tập [Kolb, 1981, p.242] Tiếp nối nghiên cứu mở rộng lý thuyết học tập trải nghiệm, Kolb và các cộng sự phát triển những khái niệm mới như: kiểu học tập (Learning style), không gian học tập (Learning space) [60], nhà giáo dục về trải nghiệm (Experiential educator) [61], [70].

Năm 2005, Kolb phát triển khái niệm “không 10 gian học tập” để tăng cường mối tương tác giữa người học và môi trường học tập.2: Hồ sơ vai trò của nhà giáo dục [Kolb et al, 2014, p.220] Năm 2014, Kolb và cộng sự cung cấp mô hình hướng dẫn các nhà giáo dục giảng dạy theo chu trình học tập trải nghiệm, trong đó mô tả vai trò mà nhà giáo dục trong các kiểu học tập khác nhau gồm: 1/Người định hướng (Facilitator), 2/Người chuyên gia (Expert), 3/Người xác lập tiêu chuẩn và đánh giá (Standardsetter & Evaluator), 4/Người huấn luyện (Coach) (xem Hình 1. Nhà giáo dục cần linh hoạt chuyển đổi vai trò để thích ứng với các giai đoạn khác nhau trong chu trình trải nghiệm. Theo “hồ sơ vai trò của nhà giáo dục” (Educator role profile) cho thấy, “học bằng làm” nhấn mạnh đến vai trò là “Người xác lập tiêu chuẩn và đánh giá” của giảng viên. Theo đó, giảng viên xác lập tiêu chuẩn rõ ràng những nhiệm vụ học tập/ vấn đề học tập và sinh viên cần biết các tiêu chuẩn mà họ được đánh giá.

11 Năm 2015, trong cuốn sách “Teaching in a digital age” (tạm dịch: Dạy học trong thời đại số) [44], Bates khẳng định “học tập trải nghiệm” (experiential learning) là thuật ngữ rộng nhất bao hàm nhiều cách tiếp cận khác nhau của học bằng làm, chẳng hạn như thí nghiệm, nghiên cứu trường hợp, học dựa vào dự án, học dựa vào vấn đề. Mặt khác, mô hình học tập trải nghiệm của Kolb định nghĩa rõ ràng 4 kiểu học tập gồm [58]: (1) Học bằng trải nghiệm (learning by experiencing) (2) Học bằng phản ánh (learning by sharing and reflecting) (3) Học bằng suy nghĩ (learning by thinking) (4) Học bằng làm (leanring by doing) Như vậy, nghiên cứu của Bates (2015) [44] đã khẳng định, học bằng làm chính là một kiểu học tập trải nghiệm. Từ khi xuất bản năm 1984 cho đến nay, lý thuyết học tập trải nghiệm của Kolb (1984) vẫn không ngừng được phát triển mở rộng, được nhiều nhà giáo dục ủng hộ như là một lý thuyết giáo dục có vai trò trung tâm trong nền giáo dục tiến bộ trong thế kỉ 21 [56], [63]. Mô hình về khung hành vi của học trải nghiệm đã được Kolb (1984) xác lập sẽ là cách tiếp cận trung tâm để luận án giải quyết vấn đề “Dạy học kĩ thuật cơ khí ở đại học theo tiếp cận học bằng làm”.

Bên cạnh những nghiên cứu của Kolb cũng như các tác giả khác bàn luận trực tiếp vào khung hành vi mô tả của học bằng làm, còn có rất nhiều nghiên cứu điển hình khác bàn về quan điểm, tư tưởng và bản chất của học bằng làm như: Năm 1987, nghiên cứu của Chickering & Gamson đã kết luận rằng, để học tốt thì sinh viên cần phải được tạo điều kiện làm việc nhiều hơn như đọc, viết, thảo luận, hoặc tham gia giải quyết vấn đề hơn là chỉ nghe một cách thụ động [45]. Các tác giả lập luận rằng, học tập không phải là khán giả của thể 12 thao với ngụ ý rằng: sinh viên không thể học được nhiều chỉ bằng cách ngồi trong lớp nghe giảng viên giảng bài và ghi nhớ bài tập được đóng gói sẵn. Họ nhất thiết phải được áp dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày để làm ra điều gì đó có ý nghĩa với bản thân họ. Julius Nyerere (1922 – 1999) nhận xét [69]: quá trình học tập không nhất thiết phải diễn ra ở trong lớp học, việc học có thể từ những người đi trước, hoặc từ kinh nghiệm (có thể thành công hay thất bại) trong quá khứ và cách tốt nhất để học là bằng cách làm, từ những việc được làm.

Wurdinger và Carson (2010) cho rằng [82]: người dạy nên tích cực hóa người học qua hoạt động nhóm, thực hành và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Người học sẽ tự tìm thấy động cơ hoặc nhu cầu học tập qua quá trình thực hành này. Năm 2011, trong bài báo “Nguyên tắc học bằng làm” (The Learning-by- Doing Principle) [72], Reese nhấn mạnh học bằng làm là một nguyên lí học tập đã được chứng minh từ hàng nghìn năm bởi nhiều bậc vĩ nhân. Tác giả cũng chỉ ra nhiều hình thức của học bằng làm như: phát hiện thực tế đối chiếu với giảng dạy, kinh nghiệm thực tế đối chiếu với học tập sách giáo khoa, phép biện chứng giữa thực hành – lý thuyết – thực hành, đối chiếu các bằng chứng trên sự thực hành.

Kết quả nghiên cứu của Reese (2011) thực sự rất hữu cho việc thiết kế các nhiệm vụ kĩ thuật, cùng với việc thiết kế hoạt động giúp sinh viên phản ánh các phép đối chiếu khác nhau. Năm 2012, Meloy xuất bản cuốn sách với tựa đề “Thế kỉ 21 của học bằng làm” (Twenty-first Century Learning by Doing) đã tập hợp những phản ánh xuyên suốt về học bằng làm ở nhiều hình thức khác nhau trong quá trình học hỏi, làm việc nhằm hoàn thành đề tài nghiên cứu của sinh viên, thạc sĩ và tiến sĩ [65]. Cuốn sách là công cụ quan trọng phác họa tiến trình từ nghiên cứu giả định ý tưởng đến tái hiện đặc tính lý thuyết để học bằng làm thông qua quá trình học hỏi của người học. 13 Năm 2015, Ingmire và cộng sự công bố kết quả nghiên cứu trong bài viết “Học bằng làm giúp người học đạt hiệu suất tốt hơn trong khoa học” (Learning by doing helps students perform better in science) [55] cho thấy, những kinh nghiệm thực tiễn mang lại nhiều lợi ích hơn cho người học bằng những trải nghiệm thể chất của chính họ.

Khi sinh viên được tham gia vào các hoạt động thực tế, các hoạt động thể chất sẽ tăng khả năng kích hoạt các vùng cảm giác và vùng vận động của não, khiến họ hiểu hơn về các khái niệm khoa học mà họ học được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về dạy học kỹ thuật cơ khí ở đại học theo phương pháp học bằng làm" tập trung vào việc áp dụng phương pháp học bằng làm trong giảng dạy kỹ thuật cơ khí tại các trường đại học, đặc biệt là tại Đại học Công nghiệp Hà Nội. Luận án này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên phát triển kỹ năng thực tiễn và tư duy sáng tạo. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức cải tiến phương pháp giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí, hãy khám phá thêm về Luận Văn Thiết Kế và Chế Tạo Mô Hình Bơm Nước Sử Dụng Pin Năng Lượng Mặt Trời, nơi bạn sẽ tìm thấy những ứng dụng thực tiễn trong thiết kế và chế tạo. Bên cạnh đó, bài viết Thuyết Minh Đồ Án Thiết Kế Ô Tô: Tính Toán Ly Hợp Ô Tô cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về quy trình thiết kế trong ngành cơ khí ô tô, một lĩnh vực liên quan mật thiết đến kỹ thuật cơ khí. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Tính Toán Thiết Kế Hệ Thống Treo Trên Xe Honda Civic 2018 để hiểu rõ hơn về các phương pháp thiết kế và tính toán trong ngành cơ khí. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí.