đặt vấn đề để giải quyết vấn đề chính là điểm mấu chốt, khởi đầu cho sự học tập, phấn đấu không ngừng nghỉ của học sinh. “Học cùng dự án” coi các vấn đề là mắt xích để kết nối các mảng kiến thức liên ngành với nhau, đồng thời trong cả quá trình phân tích, triển khai và đánh giá dự án. Một dự án có thể bao gồm nhiều vấn đề và một vấn đề có thể triển khai thành nhiều dự án. Dự án học tập: là dự án được sử dụng trong dạy học, là nhiệm vụ của DHDA.
Theo Nguyễn Văn Cường [13] DAHT mang một số đặc điểm sau: - Tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn. 9 - Được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình. - Đòi hỏi những hình thức kiểm tra, đánh giá đa dạng và thường xuyên. - Mang tính thực tiễn.
Dạy học dự án Theo K.Frey - nhà nghiên cứu hàng đầu về dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức thì: Dạy học dự án (Project Based Learning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập, trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được. Học dự án nhấn mạnh vai trò của người học. Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “Học dự án (Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống”. Theo Trịnh Văn Biều [14] dạy học dự án là một hình thức dạy học hay phương pháp dạy học phức hợp, trong đó dưới sự hướng dẫn của GV, người học tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống (dự án) có thật trong đời sống, theo sát chương trình học, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, tạo ra các sản phẩm cụ thể.
Theo Vygotsky [15], bản thân việc học là một phần của hoạt động xã hội và nó sẽ trở nên hiệu quả nhất khi được đặt vào trong bối cảnh xã hội. Thay vì gò bó trong phạm vi nhà trường, việc học cần được gắn kết với bối cảnh văn hoá, cộng đồng để kiểm thử các kiến thức, trải nghiệm và chiêm nghiệm các tích luỹ cá nhân. Bản thân mô hình project based learning được xuất phát từ các trường Y, nơi mà việc học tập dựa trên trải nghiệm, thực hành đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Giờ đây, project based learning đã trở nên phổ biến hơn và được áp dụng nhiều vào các chuyên môn, bậc học khác nhau.
Ở Việt Nam, project based learning được biết đến nhiều với tên gọi: Dạy học dự án. 10 Trong khi lớp học truyền thống vốn lấy bài học làm trung tâm và GV là trọng tâm thì dạy học dự án là một mô hình tổ chức lớp học nhằm hướng tới mục tiêu lâu dài, lấy người học làm trung tâm, liên nội dung và tích hợp với các vấn đề thực hành thực tế. Bằng việc GV lùi lại, đảm nhận vai trò dẫn dắt và trao quyền cho học sinh làm chủ quá trình học tập, học sinh hình thành tinh thần trách nhiệm đối với việc học, từ đó tạo dựng môi trường học tập chủ động hơn. Theo Hoàng Anh Đức, Tô Thụy Diễm Quyên [16]: “Học tập qua dự án là một phương pháp tiếp cận trong đó người học đạt được kiến thức và các kỹ năng thông qua làm việc trong một khoảng thời gian dài để nghiên cứu và trả lời cho một câu hỏi phức hợp, một vấn đề, hoặc giải quyết thử thách”.
Qua đó, ta có thể thấy, học tập qua dự án giúp hình thành khả năng tư duy trừu tượng cho đến thực thi và kiểm soát nhiệm vụ, dùng tư duy phê phán để khám phá các vấn đề phức tạp; thúc đẩy sự hiểu biết, khám phá kiến thức thật. Trong học tập qua dự án, người học khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin theo những cách có ý nghĩa. Chính cách làm đó là minh chứng rõ ràng nhất cho việc học và phản ánh sự hiểu biết thực sự. Từ đó có thể khái quát: Dạy học dự án là một hình thức tổ chức những dự án học tập dưới sự hướng dẫn và điều khiển của GV, ở đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự gắn kết giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khi đó người học phải tự lập kế hoạch, thực hiện đánh giá kết quả, cuối cùng tạo ra được những sản phẩm phù hợp với mục đích và yêu cầu đã đề ra. Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu. Dạy học dự án hướng người học đến việc thu nhận các kiến thức và hình thành các kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một vấn đề có tính chất phức hợp. Các dự án học tập cho phép tạo ra cho người học có nhiều cơ hội học tập hơn, đa dạng hơn về chủ đề và quy mô, có thể được tổ chức ở hầu hết các bậc học khác 11 nhau.
Dạy học dự án cho phép người học đóng nhiều vai trò tích cực như người giải quyết vấn đề, điều tra viên hay người viết báo cáo, … Các nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập. Trong luận văn này, tác giả quan niệm về dạy học dự án theo quan điểm của Nguyễn Văn Cường [13]: Phương pháp “Học dựa trên dự án” (Project based learning – PBL) là một phương pháp hay một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Đặc điểm của dạy học dự án.
Định hướng thực tiễn Định Có ý hướng nghĩa xã sản phẩm hội Định Cộng tác Đặc điểm hướng làm việc của DHDA hứng thú học sinh Tính tự Mang lực cao tính phức của học Định hợp sinh hướng hành động 12 Theo Bernd Meier [6], Nguyễn Văn Cường (2005) [12] DHDA có các đặc điểm sau: định hướng thực tiễn; định hướng thích thú người học; mang tính phức hợp, liên môn; định hướng hành động; tính tự lực cao của người học; cộng tác làm việc; định hướng sản phẩm. Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ của dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của người học. Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội.
Trong những trường hợp lí tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực. Định hướng hứng thú người học: học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp.
Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. Tính tự lực của người học: trong dạy học dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.
GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. Người học cần tham gia tích cực, chủ động trong quá trình học. Bên cạnh việc GV 13 đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ, cần đảm bảo mức độ tự lực của học sinh phù hợp với khả năng của người học và độ khó của nhiệm vụ.
Ngoài ra, trong nghiên cứu của Trần Việt Cường, DHDA còn có thêm một số đặc điểm như [19]: - Có khả năng tích hợp cao: DHDA có thể thực hiện kết hợp với nhiều PPDH như vấn đáp – gợi mở, đóng vai,. nhiều hình thức dạy học khác nhau. Đồng thời thể hiện tính liên môn với Vật lý, Hóa học, Công nghệ,. Ngoài ra khi thực hiện dự án, học sinh còn có cơ hội hình thành và rèn luyện các kỹ năng thế kỉ 21.
- Không bị ràng buộc chặt chẽ về không gian, thời gian: DHDA có thể được tiến hành trong phạm vi nhỏ như nhóm hay có thể là một lớp học thậm chí là ngoài lớp học. Thời gian không chỉ bó buộc trong 45 phút mà có thể là một ngày, nhiều ngày hoặc hàng tuần,. tùy vào quy mô của dự án. Mỗi thành viên tùy vào sở trường, năng lực, điều kiện thực tế của bản thân sẽ có cách tiếp cận và thực hiện khác nhau.
- Tạo ra môi trường học tập tương tác: đẩy mạnh sự tương tác giữa các thành tố trong quá trình dạy học, không chỉ là GV – người học mà đặc biệt là người học – người học, người học – xã hội. - Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của học sinh: sự tự chủ, sáng tạo đồng thời là cơ hội “cá nhân hóa sản phẩm”. Ngoài ra Trịnh Văn Biều [14] còn chỉ ra một số đặc điểm như: - Quan tâm đến sản phẩm của hoạt động: + Trong quá trình thực hiện dự án, người ta quan tâm nhiều đến các sản phẩm được tạo ra. Sản phẩm có thể là vật chất, hoặc phi vật chất, một bản thiết kế hoặc một kế hoạch.
+ Các sản phẩm không chỉ là những thu hoạch thuần túy về lí thuyết mà trong đa số trường hợp, các dự án còn tạo ra những sản phẩm vật chất mang tính xã hội.