phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn việc sử dụng bài tập để tổ chức dạy học chƣơng II-Tính quy luật của hiện tƣợng di truyền, Sinh Học 12-THPT bằng phƣơng pháp nêu vấn đề Chƣơng 2: Sử dụng bài tập để tổ chức dạy học chƣơng II-Tính quy luật của hiện tƣợng di truyền, Sinh Học 12-THPT bằng phƣơng pháp nêu vấn đề. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm và đánh giá kết quả. Kết luận và khuyến nghị. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I-CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan các nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề 1. Trên thế giới Thời Khổng Tử đã có tƣ tƣởng áp dụng tình huống có vấn đề của cuộc sống vào dạy học, khi ông sử dụng các hoàn cảnh, câu chuyện có thực gặp trong cuộc sống hàng ngày để truyền đạt kiến thức và răn dạy cho học trò của mình. Đến cuối thế kỉ XIX, việc sử dụng các tình huống trong giảng dạy mới đƣợc áp dụng phổ biến. Từ năm 1870, Christother Columbas Langdel dạy tại trƣờng đại học kinh doanh Harvard đã ngƣời khởi xƣớng và áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu TH vào dạy học.
Cuốn sách đầu tiên về phƣơng pháp TH ra đời năm 1921 do tác giả viết là Copeland. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1960 trở lại đây phƣơng pháp sử dụng các THCVĐ trong dạy học mới phát triển mạnh. Có nhiều công trình nghiên cứu về DHGQVĐ hoặc có liên quan tới DHGQVĐ, phƣơng pháp dạy học này thành phần quan trọng nhất là các THCVĐ. Năm 1909 đến năm 1933, nhà giáo dục nổi tiếng J.Dewey đã có những ý tƣởng về DHNVĐ: Năm 1909, J.Dewey đã có ý tƣởng về DHNVĐ đã đƣợc trình bày trong cuốn sách (chúng ta suy nghĩ nhƣ thế nào).
Lý thuyết dạy học của J.Dewey đã đƣợc phổ biến và vận dụng rộng rãi vì nó chống lại kiểu dạy học giáo điều. HS đƣợc học tập thông qua hoạt động thực hành gắn liền với những yêu cầu thực tiễn; tuy nhiên vẫn chƣa quan tâm đúng mức đến dạy các kiến thức lý thuyết (Dewey John, How we think, 1993). Quan điểm của ông về DHNVĐ lại tiếp tục đƣợc thể hiện trong cuốn sách “dân chủ và giáo dục” năm 1916 là “…đừng quan niệm giáo dục là cho cuộc sống tƣơng lai mà phải làm cho giáo dục gắn đầy đủ với cuộc sống hiện tại, nghĩa là xã hội rộng lớn và lớp học đều phải tham gia nghiên cứu cuộc sống hiện tại với các VĐ cần giải quyết” (Richar I. Arends (1988), Learning to Teach, 4th ed.
Mc Graw Hillm, New York, San Francisco). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan điểm của J.Dewey (năm 1953) thì hoạt động của mỗi cá nhân để làm sáng tỏ VĐ cần phải giải quyết gồm 5 bƣớc: Bƣớc 1: Cá nhân nhận thức đƣợc khó khăn và nêu rõ VĐ cần giải quyết. Bƣớc 2: Chú ý đến tất cả những cách giải quyết hoặc những dự đoán có thể có. Bƣớc 3: Những giả định đƣợc sử dụng nhƣ những giả thuyết xác định việc quan sát và thu thập các sự kiện.
Bƣớc 4: Dẫn ra các sự kiện, bằng chứng, sắp xếp các sự kiện đã thu thập, quan sát đƣợc. Bƣớc 5: Tiến hành kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết đã nêu. Nhìn chung, lý luận dạy học của J.Dewey đã có ảnh hƣởng mạnh tới sự phát triển giáo dục một số nƣớc nhƣ ở Mỹ,. do tính hiệu quả mang lại là đã tạo điều kiện để HS tƣ duy, làm việc tích cực trong lớp.
Tuy nhiên, lý thuyết về DHNVĐ vẫn chƣa đƣợc J.Dewey đề cập nhiều. Ở Mỹ, thông qua việc tiếp cận nêu VĐ khi dạy các môn khoa học tự nhiên thể hiện qua cuốn sách “dạy khoa học tự nhiên bằng con đƣờng khám phá”(Carin A, sund R. B, Teaching science through Discovery, Merill 1964). Nội dung cuốn sách chƣa làm sáng tỏ cơ sở của phƣơng pháp này, mà chỉ nêu rõ ra một số đoạn với việc đặt câu hỏi nêu VĐ nhƣng cũng là điểm khởi đầu để đi đến lý luận hoàn chỉnh về DHGQVĐ.
Nhà giáo dục học nổi tiếng của Ba Lan V.Ôkôn năm 1968 đã hoàn thành công trình giá trị về DHGQVĐ là “những cơ sở của dạy học nêu vấn đề” (Okol V (1976. Những cơ sở của DHNVĐ, nhà xuất bản giáo dục.Ôkôn đã nghiên cứu những điều kiện xuất hiện THCVĐ và khẳng định vai trò của DHNVĐ với sự phát triển trí tuệ của ngƣời học.Novatski đã nêu lên một số cách tổ chức DHNVĐ.Flêminh đã thiết kế các phƣơng án cấu trúc tiết học nêu VĐ (Richard I. Arends (1998), learning to teach, 4th ed. Mc Grew Hillm New York, San Francisco).
Từ những năm 50, các nhà lý luận dạy học Liên Xô (trƣớc đây) nhƣ M.Exipôp trong cuốn sách “Lý luận dạy học” đã nêu lên một số nguyên tắc tổ chức DHNVĐ. Trong đó, để phát huy tính tích cực học tập của HS thì GV không truyền đạt kiến thức dƣới dạng có sẵn nhƣ các khái niệm, định nghĩa mà còn phải dẫn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dắt HS đi tới khái niệm, định nghĩa bằng hoạt động độc lập, tích cực, tự lực GQVĐ; GV có thể đƣa ra các bài tập tình huống nhằm phát triển tích cực, tƣ duy độc lập, sáng tạo của HS, trong các nguyên tắc đó thể hiện rất rõ mục đích của việc dạy học nhƣng không thể hiện rõ những nguyên tắc phản ánh quá trình học. Nhà sƣ phạm nổi tiếng M.Skatkin trong hội nghị giáo dục (1965) đã trình bày nghiên cứu về tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS khi những GV tiên tiến trong nhà trƣờng vùng Tatarơ về DHNVĐ, ông coi đây là một hƣớng mới trong lý luận dạy học cần nghiên cứu.Skatkin đã cống hiến cho lý luận dạy học Xô Viết và thế giới về kết quả nghiên cứu khoa học của ông và nhiều đồng nghiệp khác là đã tìm ra con đƣờng nâng cao hoạt động nhận thức độc lập và sáng tạo cho HS. Từ đó tác giả đã đƣa ra những khuyến nghị cho GV áp dụng dạy học GQVĐ vào hoạt động dạy học ở các bộ môn tại trƣờng phổ thông.
Từ những năm 70, DHNVĐ tiếp tục đƣợc các nhà giáo dục nghiên cứu rộng ở Liên Xô và có nhiều đóng góp điển hình nhƣ M.Miasina đã nghiên cứu phƣơng pháp DHNVĐ, vị trí và ý nghĩa của nó trong quá trình dạy học T.Miasina (1975), phƣơng pháp NVĐ, vị trí và ý nghĩa của nó trong quá trình dạy học (Bài tập trong tài liệu về phƣơng pháp DHNVĐ, khoa Sinh, ĐH Hà Nội; F.Svalđêrôp đã đƣa ra các mức độ khác nhau về tính độc lập của HS trong lĩnh hội tri thức; G.Macimôva đã đƣa ra dạy học NVĐ trong việc nghiên cứu các giáo trình Sinh học. Ở Việt Nam Việc phát huy tính tích cực học tập của HS trong đó năng lực phát hiện đặt và GQVĐ trong học tập và thực tiễn là một trong những hƣớng đang đƣợc quan tâm trong đổi mới PPDH hiện nay. Từ những năm 1960 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về DHGQVĐ. Về giáo trình lý luận dạy học có các tác giả và tác phẩm nhƣ Nguyễn Ngọc Quang (1986, 1989) “Lý luận dạy học đại cƣơng”, tập I, II, trƣờng cán bộ quản lí giáo dục trung ƣơng I.trang 24; Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2002) “Đại cƣơng phƣơng pháp dạy học Sinh học”, NXB GD; Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1996) “Lý luận dạy học Sinh học phần đại cƣơng”; 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãnh Bách, Trần Bá Hoành (1980) “Lý luận dạy học Sinh học”; Đinh Quang Báo, Nguyễn Cƣơng và Nguyễn Đức Thâm với đề tài đổi mới phƣơng pháp dạy học các môn khoa học tự nhiên ở trƣờng phổ thông trung học theo hƣớng hoạt động hóa ngƣời học (1996).
Các công trình nghiên nghiên cứu song song lý thuyết và thực nghiệm với mục đích nâng cao chất lƣợng dạy học đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu luận án phó tiến sĩ, tiến sĩ bảo vệ trong nƣớc và nƣớc ngoài của các tác giả: Đinh Quang Báo (1981) “Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học Sinh học”; Nguyễn Đức Thành (1989) “Góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy các định luật di truyền”; Lê Đình Trung (1994) “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chƣơng trình Sinh học ở bậc PTTH”; Vũ Đức Lƣu (1994) “Dạy học các quy luật di truyền ở phổ thông trung học bằng bài toán nhận thức”; Dƣơng Tiến Sĩ (1999) “Sử dụng bài tập tình huống sƣ phạm để rèn luyện cho sinh viên kỹ năng dạy học sinh học”; Lê Thanh Oai (2003), “ Sử dụng câu hỏi, bài tập để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy học sinh thái lớp 11 THPT”; Hoàng Hữu Niềm (2001) “Phƣơng pháp hƣớng dẫn tự học phần cơ sở di truyền học cho các học viên tại các trung tâm giáo dục thƣờng xuyên”. Các tác giả này tuy không nghiên cứu về dạy học GQVĐ nhƣng nội dung nghiên cứu đều theo hƣớng phát huy tính tích cực học tập của HS bằng câu hỏi, bài tập, bài toán nhận thức hoặc bài tập tình huống. Trong nghiên cứu, biên soạn tài liệu tham khảo, sách bồi dƣỡng GV về phƣơng pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động cho các cấp học từ THCS, THPT cũng có nhiều tác giả Trần Bá Hoành, Lê Đình Trung, Vũ Đức Lƣu, Đinh Quang Báo, Vũ Đức Thành, Trần Văn Kiên, Phan Đức Duy, Nguyễn Văn Duệ, Dƣơng Tiến Sỹ, Trần Văn Kiên. với các tác phẩm và công trình nghiên cứu điển hình nhƣ “Phát triển các phƣơng pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học;.
làm cơ sở lý luận dạy học GQVĐ và vận dụng dạy học GQVĐ thiết kế một số bài học để tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh tiếp cận GQVĐ ở trƣờng THCS và THPT. Cơ sở lí luận 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dạy học tích cực Phƣơng pháp dạy học tích cực là phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học. Nhƣ vậy thì “Tích cực” trong phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc dùng với định nghĩa là hoạt động, chủ động của HS.
Trái với hoạt động này là không hoạt động, thụ động chứ không mang ý nghĩa ngƣợc là với tiêu cực. Cốt lõi của đổi mới dạy học, của dạy học tích cực là nhằm tạo ra hoạt động học tập chủ động chống lại thói quen hoạt động thụ động.