Tổng quan nghiên cứu

Môn Tiếng Việt giữ vai trò hạt nhân trong việc bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ và tư duy cho học sinh tiểu học. Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, quá trình dạy học đòi hỏi chuyển dịch mạnh mẽ từ truyền thụ tri thức ngữ pháp sang phát triển phẩm chất và năng lực giao tiếp thực tiễn. Là lớp học bản lề kết thúc bậc tiểu học, học sinh lớp 5 cần làm chủ kiến thức về câu để tạo nền tảng vững vàng bước vào cấp trung học cơ sở. Tuy nhiên, kết quả khảo sát thực tế tại một số trường tiểu học ở phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên năm 2025 cho thấy có 12,0% học sinh chưa hoàn thành yêu cầu về câu, đồng thời 79,3% giáo viên nhận định nhiều bài tập hiện hành có độ khó vượt mức tiếp thu thông thường.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đề xuất hệ thống giải pháp dạy học câu theo hướng phát triển năng lực, tập trung vào việc thiết kế hệ thống bài tập phân hóa và áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực cho học sinh lớp 5 sử dụng bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Phạm vi khảo sát được triển khai trên 150 học sinh và 29 giáo viên tại ba cơ sở giáo dục: Trường Tiểu học Túc Duyên, Trường Tiểu học Lê Văn Tám và Trường Tiểu học Đội Cấn 2. Với kết quả kiểm tra tương đồng học thuật qua phần mềm Turnitin đạt tỷ lệ chuẩn mực 1,0%, nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các giải pháp đề xuất hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt từ mức 36,0% hiện nay lên mức vượt trội, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp chức năng và lý luận giáo dục hiện đại. Về phương diện ngôn ngữ học, tác giả kế thừa quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn (1996) khi định nghĩa câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mang một thông báo tương đối hoàn chỉnh, kết hợp góc nhìn của Cao Xuân Hạo (2017) về sự gắn kết không thể tách rời giữa câu, văn bản và ngữ cảnh giao tiếp. Về mặt sư phạm, đề tài vận dụng lý thuyết dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm của Đặng Thành Hưng (2002) và Lê Phương Nga (2004), chuyển đổi vai trò của người học từ tiếp nhận thụ động sang chủ động khám phá và kiến tạo tri thức.

Khung lý thuyết của luận văn bám sát Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 với 2 nhóm năng lực cốt lõi gồm 3 năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) cùng 7 năng lực đặc thù, trong đó năng lực ngôn ngữ giữ vai trò then chốt thông qua 4 kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Hệ thống khái niệm công cụ được xác định rõ ràng: câu đơn là câu có một cụm chủ vị nòng cốt; câu ghép là câu có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên; liên kết câu là biện pháp dùng từ ngữ nối hoặc lặp để duy trì tính mạch lạc; kĩ thuật dạy học tích cực là các thao tác sư phạm vi mô nhằm kích hoạt tư duy người học.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn phối hợp đồng bộ giữa nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn và thực nghiệm sư phạm. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế gồm 150 học sinh lớp 5 vừa hoàn thành chương trình và 29 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo cụm trường nhằm bảo đảm tính đại diện giữa các trường trung tâm và vùng ven. Cụ thể, mẫu học sinh được phân bổ đều tại ba đơn vị: Trường Tiểu học Túc Duyên (50 học sinh), Trường Tiểu học Lê Văn Tám (50 học sinh) và Trường Tiểu học Đội Cấn 2 (50 học sinh). Cơ cấu dân tộc của mẫu gồm 118 học sinh người Kinh (chiếm 78,7%), 18 học sinh người Tày (chiếm 12,0%), 10 học sinh người Nùng (chiếm 6,7%), 2 học sinh người Mường (chiếm 1,3%) và 2 học sinh người Sán Chay (chiếm 1,3%).

Lý do lựa chọn phương pháp điều tra định lượng kết hợp phỏng vấn sâu và dự giờ sư phạm là nhằm lượng hóa chính xác thực trạng, nhận diện các dạng lỗi sai phổ biến của học sinh và đánh giá khách quan mức độ phù hợp của sách giáo khoa. Bộ công cụ khảo sát học sinh gồm 10 bài tập chuẩn hóa bao quát ba mạch nội dung: câu đơn - câu ghép (5 bài), liên kết câu (3 bài) và dấu câu (2 bài). Toàn bộ quy trình thu thập dữ liệu và phân tích được triển khai trong năm học 2024 - 2025, hoàn thiện vào tháng 10 năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) có sự phân bố không đồng đều giữa các thể loại. Thống kê 81 bài tập về câu chỉ ra rằng dạng nhận biết và phân tích câu chiếm tỷ lệ áp đảo với 42 bài (51,9%), dạng tạo lập và mở rộng câu có 27 bài (33,3%), dạng liên kết câu có 8 bài (9,9%), trong khi dạng bài tập biến đổi câu xuất hiện rất khiêm tốn với 4 bài, chiếm vỏn vẹn 4,9%.

Thứ hai, kết quả kiểm tra 150 học sinh cho thấy chất lượng thực hành ngữ pháp có sự phân hóa đáng kể theo khu vực trường. Tỷ lệ hoàn thành tốt trên toàn mẫu đạt 36,0% (54 học sinh), hoàn thành đạt 52,0% (78 học sinh) và chưa hoàn thành là 12,0% (18 học sinh). Trường Tiểu học Đội Cấn 2 đạt kết quả cao nhất với 42,0% hoàn thành tốt và chỉ 4,0% chưa hoàn thành. Trái lại, Trường Tiểu học Túc Duyên có tỷ lệ chưa hoàn thành lên tới 18,0%, cao gấp 4,5 lần so với Đội Cấn 2.

Thứ ba, khảo sát 29 giáo viên bộc lộ những khó khăn nghiệp vụ rõ rệt trong thực tiễn đứng lớp. Có 44,8% giáo viên (13 người) gặp khó khăn khi dạy bài học về câu đơn và câu ghép, 27,6% (8 người) gặp trở ngại ở nội dung liên kết câu và 27,6% lúng túng khi hướng dẫn về dấu câu. Đáng chú ý, 79,3% giáo viên nhận định một số bài tập hiện hành có độ khó cao hơn mức tiếp thu của học sinh lớp 5.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh khoảng cách giữa định hướng đổi mới phương pháp và cơ cấu bài tập bổ trợ. Tỷ lệ bài tập biến đổi câu quá thấp (4,9%) làm suy giảm cơ hội rèn luyện tư duy cú pháp linh hoạt, khiến học sinh gặp nhiều lúng túng khi phân biệt giữa thành phần phụ mở rộng của câu đơn với các vế độc lập trong câu ghép. Kết quả này tương đồng với nhận định của Nguyễn Trí (2017) về sự thiếu hụt các bài tập vận dụng ngôn ngữ trong tình huống thực tế, đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm cụ thể tại địa bàn đô thị loại 1 như Thái Nguyên.

Để dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa, kết quả thống kê có thể được trình bày hiệu quả qua hai dạng đồ họa: biểu đồ hình quạt tròn thể hiện cơ cấu 81 bài tập nhằm làm nổi bật ưu thế áp đảo của dạng bài nhận biết (51,9%), cùng biểu đồ cột nhóm so sánh ba mức xếp loại học lực giữa ba trường khảo sát. Ngoài ra, việc thiết lập bảng ma trận phân loại bài tập theo 4 cấp độ tư duy (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) sẽ cung cấp công cụ hữu ích giúp giáo viên kiểm soát sự tiến bộ của từng nhóm học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các cơ sở thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 giải pháp sư phạm đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng dạy học câu:

Một là, xây dựng và bổ sung hệ thống bài tập phân hóa theo 4 cấp độ nhận thức. Giáo viên cần chủ động bổ sung từ 15 đến 20 bài tập thuộc nhóm biến đổi câu và liên kết câu vào các tiết luyện tập, khắc phục tỷ lệ 4,9% hiện tại của sách giáo khoa. Mục tiêu cụ thể là kéo giảm tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành xuống dưới mức 5,0% trong năm học 2025 - 2026. Chủ thể thực hiện là tổ chuyên môn khối 5 và giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt.

Hai là, vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Giáo viên cần phối hợp nhịp nhàng phương pháp giao tiếp, trò chơi học tập với 5 kĩ thuật dạy học hiện đại: sơ đồ tư duy, khăn trải bàn, bể cá, tia chớp và phòng tranh. Mục tiêu phấn đấu nâng mức độ hứng thú học tập của học sinh lên trên 85,0% trong các tiết học ngữ pháp. Hoạt động này được thực hiện định kỳ 2 tiết mỗi tuần do giáo viên bộ môn chủ trì.

Ba là, gắn kết chặt chẽ tri thức câu với các phân môn Đọc, Viết, Nói và Nghe trong ngữ cảnh giao tiếp thực tế. Giáo viên hướng dẫn học sinh ứng dụng trực tiếp các mẫu câu đơn, câu ghép vào việc tạo lập đoạn văn ngắn từ 5 đến 7 câu. Mục tiêu hướng tới 100% học sinh sử dụng đúng kết từ và dấu gạch ngang theo ngữ cảnh từ tuần 19 đến tuần 34 của chương trình lớp 5.

Bốn là, đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giáo viên thông qua hình thức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các nhà trường tổ chức 2 đợt tập huấn chuyên sâu trong năm, tập trung tháo gỡ vướng mắc cho 44,8% giáo viên đang gặp khó khăn khi dạy câu ghép, hướng tới hạ tỷ lệ này xuống dưới 10,0%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm trong hệ sinh thái giáo dục:

Nhóm thứ nhất là giáo viên trực tiếp giảng dạy khối lớp 5 tại các trường tiểu học. Thầy cô có thể khai thác trực tiếp ngân hàng 81 bài tập chuẩn hóa cùng quy trình vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực như khăn trải bàn hay sơ đồ tư duy để thiết kế giáo án sinh động, hỗ trợ 100% học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý và tổ trưởng chuyên môn tiểu học. Nguồn số liệu khảo sát từ 29 giáo viên và 150 học sinh cung cấp bức tranh thực tiễn rõ nét, giúp nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn định kỳ, từng bước xóa bỏ tỷ lệ 12,0% học sinh chưa hoàn thành chuẩn kiến thức.

Nhóm thứ ba là sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Giáo dục Tiểu học. Đề tài cung cấp khung lý thuyết chỉn chu, phương pháp chọn mẫu phân tầng với 5 nhóm dân tộc thiểu số và chỉ số trùng lặp văn bản qua phần mềm Turnitin đạt 1,0%, đóng vai trò là tài liệu tham khảo nghiên cứu khoa học mẫu mực.

Nhóm thứ tư là các tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo. Việc phân tích cơ cấu bài tập chỉ ra dạng biến đổi câu chỉ chiếm 4,9% là căn cứ khoa học quan trọng để nhóm biên soạn điều chỉnh, cân bằng lại các dạng bài tập trong những lần tái bản tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Hệ thống bài tập về câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 bộ Kết nối tri thức được phân bổ như thế nào?

Trả lời: Sách giáo khoa và vở bài tập Tiếng Việt 5 bố trí tổng cộng 81 bài tập về câu. Trong đó, nội dung câu đơn và câu ghép chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42 bài (51,9%), tiếp theo là mảng liên kết câu với 25 bài (30,8%) và mảng dấu câu có 14 bài (17,3%). Hệ thống này tập trung nhiều ở học kỳ 2 nhằm hoàn thiện kiến thức cú pháp cho học sinh.

Câu hỏi 2: Vì sao có tới 44,8% giáo viên gặp khó khăn khi giảng dạy về câu đơn và câu ghép?

Trả lời: Khó khăn chủ yếu xuất phát từ việc học sinh lớp 5 dễ nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng trạng ngữ với câu ghép có nhiều vế câu độc lập. Khảo sát 29 giáo viên cho thấy nếu thiếu hệ thống bài tập trực quan hóa cấu trúc chủ ngữ - vị ngữ nòng cốt, học sinh sẽ gặp trở ngại lớn khi xác định ranh giới các vế câu.

Câu hỏi 3: Khoảng trống lớn nhất trong hệ thống bài tập về câu hiện nay là gì?

Trả lời: Hạn chế lớn nhất là sự mất cân đối giữa các thể loại bài tập: dạng biến đổi câu chỉ chiếm 4,9% với vỏn vẹn 4 bài trên tổng số 81 bài, trong khi bài tập nhận biết chiếm tới 51,9%. Sự thiếu hụt này làm hạn chế khả năng sử dụng câu linh hoạt và sáng tạo của học sinh khi tạo lập văn bản.

Câu hỏi 4: Các kĩ thuật dạy học tích cực mang lại tác động gì cho giờ học tiếng Việt?

Trả lời: Việc kết hợp các kĩ thuật như khăn trải bàn, sơ đồ tư duy và bể cá giúp chuyển hóa giờ học ngữ pháp từ nghe giảng thụ động sang tương tác chủ động. Khảo sát thực tế tại ba trường cho thấy các hình thức này giúp tăng mức độ hứng thú học tập lên trên 85,0% và nâng cao rõ rệt kĩ năng hợp tác nhóm.

Câu hỏi 5: Thực trạng kết quả học tập về câu của học sinh lớp 5 tại địa bàn khảo sát ra sao?

Trả lời: Kết quả khảo sát 150 học sinh cho thấy 36,0% đạt mức hoàn thành tốt, 52,0% đạt mức hoàn thành và 12,0% chưa hoàn thành. Khoảng cách chất lượng bộc lộ rõ giữa các trường khi tỷ lệ hoàn thành tốt ở Trường Tiểu học Đội Cấn 2 đạt 42,0%, trong khi Trường Tiểu học Túc Duyên chỉ đạt 34,0% và có 18,0% chưa hoàn thành.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã đúc kết các giá trị học thuật và thực tiễn quan trọng, mở ra hướng đi khả thi cho việc dạy học tiếng Việt ở tiểu học:

  • Khẳng định tính cấp thiết của việc dạy học câu theo hướng phát triển năng lực, bám sát các yêu cầu cốt lõi của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Làm sáng tỏ bức tranh thực tiễn qua khảo sát 150 học sinh và 29 giáo viên tại Thái Nguyên, chỉ ra tỷ lệ 12,0% học sinh chưa hoàn thành và 44,8% giáo viên gặp khó khăn về phương pháp.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm bài tập phân hóa khoa học và giải pháp ứng dụng 5 kĩ thuật dạy học tích cực, bù đắp khoảng trống 4,9% bài tập biến đổi câu của sách giáo khoa hiện hành.
  • Xác định lộ trình triển khai rõ ràng cho năm học 2025 - 2026 với mục tiêu đưa tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt vượt mốc 50,0% và giảm tỷ lệ chưa hoàn thành xuống dưới 5,0%.
  • Kêu gọi các cơ sở giáo dục tiểu học và giáo viên bộ môn chủ động vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế bài giảng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt một cách toàn diện và bền vững.