chương 1 của Luận án. Bước 2, Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án sẽ xem xét các lý thuyết, lý luận thích hợp cho vấn đề nghiên cứu và thực tiễn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, vấn đề này được đề cập trong chương 2. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TỔNG QUAN TÀI LIỆU - Lý thuyết về OFDI - Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến OFDI. Khoảng trống nghiên cứu Xác định mục tiêu nghiên cứu CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG OFDI - Khái niệm, đặc điểm, hình thức OFDI - Các nhân tố tác động OFDI: Khung lý thuyết - Cơ sở thực tiễn các nhân tố tác động OFDI ở một số nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (i) Phân tích định tính; (ii) Phân tích định lượng Khung phân tích Mô hình hồi quy tác động ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN OFDI CỦA VN HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO CHÍNH PHỦ Hình 1. Quy trình phân tích của luận án Nguồn: Tác giả xây dựng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau đó, luận án xây dựng phương pháp nghiên cứu phân tích để giải quyết vấn đề nghiên cứu, nội dung này được đề cập trong chương 3. Căn cứ vào các cơ sở lý thuyết đã xây dựng và sử dụng phương pháp nghiên cứu đã xác định, luận án đi phân tích các nhân tố tác động đến OFDI của Việt Nam trong chương 4, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách cho OFDI của Việt Nam trong chương 5. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI 1.
Công trình lý thuyết về đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài Trước năm 1960 đã có nhiều công trình nghiên cứu giải thích hoạt động của các doanh nghiệp ở bên ngoài biên giới quốc gia, như: nghiên cứu sự di chuyển vốn của Iversen (1935); nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến vị trí đầu tư trực tiếp nước ngoài (Southard, 1931; Marshall và cộng sự, 1936; Barlow, 1953; Dunning, 1958); các nghiên cứu về sở hữu của doanh nghiệp ở nước ngoài (Plummer, 1934) và lợi ích mà các doanh nghiệp có được từ hội nhập theo chiều ngang và chiều dọc (Penrose, 1956; Bye, 1958), nghiên cứu giải thích hoạt động của các doanh nghiệp ở nước ngoài là do khả năng và vốn của doanh nghiệp (Lund, 1944) và nghiên cứu của Bye (1958) chứng minh quy mô tài chính giúp cho doanh nghiệp không chỉ mở rộng thị trường mà còn có vị trí nhất định ở nước ngoài. Sau năm 1960, bắt đầu có sự hình thành các lý thuyết về OFDI. Đóng góp đầu tiên là Hymer (1960, 1968) với các nghiên cứu giải thích sự hình thành sản xuất ở nước ngoài của doanh nghiệp. Ông cho rằng hoạt động đầu tư ra nước ngoài không chỉ là sự di chuyển vốn như Iversen (1935) đã đưa ra, mà còn có cả sự di chuyển nguồn lực (công nghệ, kỹ năng quản lý, lao động,.), thêm vào đó, hoạt động sản xuất ở nước ngoài còn có cả sự rủi ro của đầu tư, sự biến động tỷ giá hối đoái, những chi phí giao dịch, chi phí cho thông tin.
Các doanh nghiệp để có sở hữu ở nước ngoài cần phải có những lợi thế như sự đổi mới, chi phí, tài chính và marketing – hay là lợi thế sở hữu- để bù đắp lại những bất lợi thế ở nước mà họ đầu tư. Như vậy, Hymer đã đề cập đến nhân tố 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về lợi thế sở hữu của doanh nghiệp song chưa đề cập đến lợi thế về địa điểm cũng tác động đến OFDI. Một lý thuyết khác nữa có ảnh hưởng lớn trong lý giải đầu tư trực tiếp nước ngoài là lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966). Vernon (1966) đã tập trung vào sản phẩm để giải thích sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế.
Theo Vernon, ngoài tài sản thiên nhiên và nguồn lực con người, một quốc gia để phát triển thương mại còn phụ thuộc vào khả năng của các doanh nghiệp nâng cao chất lượng những tài sản này hoặc sáng tạo ra những sản phẩm mới, đặc biệt là năng lực công nghệ. Giai đoạn đầu tiên, sản phẩm được sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, nơi phát minh ra sản phẩm. Ở giai đoạn tiếp theo, nhu cầu cho sản phẩm tăng lên, nhờ có lợi thế về phát minh và sản xuất hay lợi thế độc quyền, các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang các nước khác có cùng sở thích về sản phẩm đó. Dần dần, khi sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được thay đổi từ có sản phẩm độc quyền sang tối thiểu hóa chi phí để bán được nhiều sản phẩm.
Doanh nghiệp phải tối thiểu hóa chi phí do sự xâm nhập của các doanh nghiệp khác để sản xuất sản phẩm tương tự. Cùng lúc đó, nhu cầu của người tiêu dùng giảm, lao động trong nước tác động lớn đến chi phí sản xuất, lúc này thị trường nước ngoài lại mở rộng, sản xuất ở nước ngoài tăng nhanh hơn sản xuất ở trong nước. Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước nay trở thành nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm trong nước sản xuất không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế. Lý thuyết vòng đời sản phẩm giải thích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp có lợi thế sở hữu, với mục đích tìm kiếm thị trường.Lý thuyết này chưa đề cập đến các nhân tố khác như lợi thế địa điểm cũng có tác động đến đầu tư ra nước ngoài.
Vào đầu những năm 1970, nhiều nhà kinh tế học như Johnson (1970), Caves (1971, 1974a, 1974b, 1982), Horst (1972a, 1972b), Magee (1977a, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1997b), Lall (1979, 1980a), Swedenborg (1979), Calvet (1980), Pugel (1981), Lall và Siddharthan (1982), Owen (1982), Kumar (1990) đã phân tích và kiểm nghiệm lý thuyết của Hymer và Vernon. Các nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra những đặc điểm của các tài sản vô hình như tiềm năng công nghệ, kỹ năng lao động, kỹ năng tiếp thị, kỹ năng quản lý, khả năng tổ chứchay chính là các lợi thế sở hữu của doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của các biến trên giữa các ngành công nghiệp và các nước, thậm chí giữa các quốc gia. Nước Mỹ, quốc gia có lợi thế đặc thù về công nghệ, vốn con người có thể đầu tư trực tiếp nhiều vào sản xuất hàng hóa và dịch vụ với các sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu, cường độ quảng cáo lớn.
Hay nước Anh đầu tư vào lĩnh vực khai thác mỏ và nông nghiệp (Hennart, 1986a); tiếp theo là dòng đầu tư rất lớn của Nhật Bản vào lĩnh vực tài chính và ngân hàng Châu Âu những năm 1980 hay đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc những năm 1990. Những lợi thế đặc thù mà các nước Châu Âu, Nhật Bản hay Mỹ có được là do đặc điểm văn hóa, xã hội, kinh tế của từng nước khác nhau (Franko, 1976). Stephen Magee (1977a, 1977b) xem xét công nghệ như một tài sản có giá trị hơn những tài sản khác. Stephen Magee quan tâm đến các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhờlợi thế công nghệ,khi công nghệ thay đổi theo thời gian thì lợi thế sở hữu của các doanh nghiệp sẽ như thế nào? Để giải thích, Stephen Magee đã dựa trên lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon, cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thay đổi theo vòng đời của sản phẩm.Các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến tác động của lợi thế sở hữu của doanh nghiệp, trong khi lợi thế nội vi hóa của doanh nghiệp, lợi thế địa điểm cũng tác động đến OFDI.
Knickerbocker (1973); Graham (1975, 1978); Flower (1976) đã mở rộng thêm lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, theo đó, chiến lược của doanh nghiệp và hành vi của đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Trong điều kiện thị 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường cạnh tranh hoàn hảo thì chiến lược của doanh nghiệp được bảo mật mà các đối thủ cạnh tranh không biết trước được, doanh nghiệp hoạt động ở mức doanh thu mà chi phí cơ hội là thấp nhất. Tuy nhiên, khi thị trường trở nên méo mó thì chiến lược đóng vai trò tích cực dẫn dắt hoạt động kinh doanh của họ. Minh họa rõ nhất là trường hợp độc quyền, với mức giá và sản phẩm do doanh nghiệp độc quyền quyết định.
Theo Knickerbocker (1973), để tối thiểu hóa rủi ro và tránh cạnh tranh ở trong nước, chiến lược của doanh nghiệp sẽ chuyển sang đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới. Những phân tích về đầu tư trực tiếp nước ngoài mà các công ty đa quốc gia của Nhật đầutư ở Mỹ trong lĩnh vực sản xuất ô tô và thiết bị điện tử, các công ty đa quốc gia của Mỹ và Châu Âu đầu tư ở Bangalore và Ấn Độ (Balasubramanyam, 2000) đã hỗ trợ cho nhận định này. Cùng quan tâm đến chiến lược của doanh nghiệp OFDI, Aharoni (1966)đã xem xét ảnh hưởng các kế hoạch của doanh nghiệp tới quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Theo đó, nghiên cứu của Aharoni (1966) dựa trên dữ liệu của 38 công ty đa quốc gia của Mỹ thực hiện đầu tư ra nước ngoài vào những năm 1950 và 1960, nhằm giải quyết các vấn đề: (i) có hay không việc doanh nghiệp dự tính đầu tư trực tiếp nước ngoài; (ii) chi phí và lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài; (iii) quyết định di chuyển nguồn lực trong hoạt động OFDI; (iv) các điều khoản đàm phán với các cơ quan nước nhận đầu tư; (v) tác động của các cam kết giữa các quốc gia đối với chiến lược của doanh nghiệp.
Aharoni (1966) nhận thấy các doanh nghiệp OFDI đều chịu tác động của thông tin thị trường, chi phí đàm phán, chi phí học tập và những rủi ro ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp nhỏ thích đầu tư ở trong nước hơn là đầu tư ra nước ngoài. Một lý thuyết nữa giải thích đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là lý thuyết tài chính vĩ mô và tỷ giá hối đoái. Người đi tiên phong cho lý thuyết này là Aliber (1970), ông không quan tâm tại sao doanh nghiệp sản xuất ở nước ngoài 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà quan tâm đến việc tại sao doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài bằng đồng tiền của nước họ.