Chương 1- Những nhân tố tác động đến tăng trưởng FDI của Nhật bản ở Việt Nam nói chung và TP.HCM Chương 2- Thực trạng FDI của Nhật Bản ở TP.HCM những năm đầu thế kỷ XXI Chương 3- Giải pháp và triển vọng nhằm thu hút FDI của Nhật Bản ở TP.HCM 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 : NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG FDI CỦA NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM VÀ TP.HỒ CHÍ MINH 1.1 Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh thế giới mới 1. Tình hình thế giới và khu vực “Thập kỷ 90, tình hình thế giới và khu vực có những biến động sâu sắc. Liên Xô và Đông Âu tan rã, trật tự 2 cực Yalta bị sụp đổ, chiến tranh lạnh chấm dứt đã mở ra một cục diện mới trong tình hình quốc tế nói chung và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói riêng. -Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cùng tồn tại.
Các nước trong khu vực tăng cường tìm kiếm sự ổn định hợp tác, phân chia phạm vi ảnh hưởng vì lợi ích mọi mặt của quốc gia mình. -Xu thế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trở thành xu thế quan trọng. -Toàn cầu hóa tác động mạnh đến liên kết kinh tế khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tăng cường quan hệ, đổi mới đường lối đối ngoại của nhiều nước. -Lợi ích kinh tế ngày càng trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong quan hệ các nước vì nhu cầu phát triển quốc gia, chi phối chính sách đối ngoại các nước nhất là dưới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật” [36:tr28] Bước qua thế kỉ XXI toàn cầu hóa nói chung, toàn cầu hóa kinh tế nói riêng đã trở thành đặc trưng chủ yếu.
Đó là sự phát triển kinh tế vượt qua biên giới quốc gia trên cơ sở lực lượng sản xuất cũng như trình độ khoa học kĩ thuật phát triển; là một hiện tượng di chuyển trên quy mô toàn cầu của hàng hóa và các yếu tố sản xuất như tư bản, công nghệ, tri thức, quản lý kinh doanh. Trong quá trình toàn cầu hóa, thị trường trong nước ngày càng quan hệ sâu rộng với thị trường thế giới và cũng chịu ảnh hưởng, tác động nhiều hơn. Xu thế chủ đạo của thế kỉ XXI là hợp tác lẫn nhau trong các mối quan hệ kinh tế; liên kết khu vực hóa để cùng phát triển. Sự phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn cũng làm tăng nhu cầu hình thành hàng loạt các tổ chức, cơ chế hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu.
Trong thập niên cuối thế kỉ XX đã có hơn 40 hiệp định liên kết 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế khu vực và toàn cầu. Năm 2001 WTO gồm 144 nước, nhưng đến tháng 6/2010 thì WTO đã có 158 thành viên bao gồm hầu hết thị trường ở các quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng thực hiện các nguyên tắc thương mại chung của tổ chức. Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức, không chia đều cho các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Dòng chảy tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh di chuyển nhanh chóng từ nước này sang nước khác nên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia luôn trong trạng thái bị động: các nước đang phát triển luôn bị đặt dưới sự lựa chọn của công ty đa quốc gia, và tình hình kinh tế dễ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của các công ty này.
Xét về quy mô, khu vực hóa là sự liên minh, liên kết các nước cùng khu vực: gần nhau về địa lí, tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán; liên kết với nhau phá bỏ hàng rào thương mại, miễn giảm thuế, đối phó với sự cạnh tranh và xu hướng bảo hộ thương mại trong khu vực khác; tăng vị trí, vai trò của khu vực mình trong trường quốc tế… Ví dụ tổ chức APEC: diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương; ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á; EU: Liên minh châu Âu… Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, và đặc biệt là sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra từ năm 2008 Nhật Bản đã không ngừng cải thiện và tăng mạnh vốn vay đặc biệt cho ASEAN. Những cố gắng mang tính tình thế này chỉ giúp ASEAN hồi phục lại sau khủng hoảng nhưng chưa đủ sức đối kháng lại với một trào lưu mới – sự xuất hiện của Trung Quốc như một nền kinh tế mạnh mẽ thu hút FDI của thế giới, trong đó có cả FDI Nhật Bản, làm giảm bớt thị phần của ASEAN trên thị trường thế giới. Tuy hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản đang bị sụt giảm do khó khăn kinh tế từ những thập kỉ cuối của thế kỉ trước. Song thực lực nước Nhật Bản vẫn còn hùng mạnh, thể hiện về mặt: - Kĩ thuật chế tạo đứng hàng đầu thế giới - Tỉ trọng đầu tư cho nghiên cứu phát triển luôn dẫn đầu thế giới - Xuất siêu số 1 thế giới 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Dự trữ ngoại tệ khổng lồ - Nước chủ nợ số 1 thế giới Vai trò của Nhật Bản - một nước công nghiệp tiên tiến, có nền kinh tế lớn nhất khu vực được xem là rất quan trọng.
Việc chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lí kinh doanh và hợp tác tri thức từ Nhật Bản sẽ giúp ASEAN tăng cạnh tranh, đối phó có hiệu quả với các thách thức do FTA mang lại và do thách thức từ Trung Quốc. Ở phạm vi Đông Á, trong quá trình thay đổi và phát triển hướng tới mục tiêu hợp nhất khu vực hiện nay, Nhật Bản và Trung Quốc đang tích cực cạnh tranh trong cuộc đua trở thành cường quốc toàn diện, giữ vai trò lãnh đạo khối. Mỗi nước có một chiến lược hợp tác quốc tế riêng nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình ra toàn khu vực. “Chính những thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực đã cho Nhật Bản tiến tới điều chỉnh một chính sách đối ngoại nhằm thích ứng những thay đổi của tình hình và bảo vệ những lợi ích sống còn của mình “[36:tr 29] 1.2 Xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản Việt Nam và Nhật Bản vốn có mối quan hệ từ lâu đời-bắt đầu từ thế kỷ XVI, là hai quốc gia Châu Á có nhiều nét tương đồng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, cùng chịu ảnh hưởng của dòng văn hóa phương Đông.
Hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/09/1973, kể từ đó đến nay mối quan hệ thắm tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác toàn diện ngày càng được tăng cường và phát triển. Thực trạng quan hệ Việt Nam -Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XXI Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao Những năm 90 của thế kỉ XX, tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực Châu Á –Thái Bình Dương đặc biệt là Đông Nam Á và Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng. Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hợp tác và đối thoại được quan tâm, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng trở nên sâu sắc do quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Từ đó, quan hệ giữa Nhật Bản với các quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương nói chung và Việt Nam nói riêng mau chóng được cải thiện và ngày càng bền chặt.
Minh chứng cho bước cải thiện này chính là các chuyến viếng thăm hữu nghị chính thức song phương của phái đoàn 2 nhà nước. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kể từ tháng 3/1993, sau chuyến thăm chính thức Nhật Bản của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đến nay, năm nào cũng diễn ra các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước, góp phần quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị, tin cậy lẫn nhau và là một trong những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa “Quan hệ đối tác chiến lược” giữa Việt Nam-Nhật Bản. Tháng 6/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm và làm việc tại Nhật Bản trong khuôn khổ tham dự Hội thảo "tương lai Châu Á". Hai Thủ tướng đã trao đổi ý kiến về các biện pháp nhằm củng cố, phát triển, đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới trong thế kỷ XXI, tương xứng với tiềm năng phong phú của hai nước, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước; khẳng định mong muốn và quyết tâm của Chính phủ và nhân dân hai nước đóng góp vào sự nghiệp hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng như trên thế giới.
Tháng 4/2002 Thủ tướng Phan Văn Khải đã mời Thủ tướng J. Koizumi sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam. Hai bên xác định mối quan hệ chiến lược, đối tác lâu dài của nhau. Việt Nam rất coi trọng và đánh giá cao chuyến thăm của Thủ tướng Koizumi với tư cách là Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên đến Việt Nam trong thế kỷ XXI, và tin tưởng rằng chuyến thăm này sẽ mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hữu nghị - hợp tác giữa hai nước.
Tháng 10/2002, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã sang thăm chính thức Nhật Bản theo lời mời của Thủ tướng Junichiro Koizumi. Chuyến thăm tiếp tục tăng cường đối thoại cấp cao Việt - Nhật, củng cố sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước; đưa quan hệ Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới, ổn định và bền vững; đẩy mạnh giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực, trước hết là kinh tế, thương mại, đầu tư và viện trợ phát triển chính thức (ODA). Tháng 4/2003 và tháng 6/2004 thủ tướng Phan Văn Khải đến thăm Nhật Bản. Trong các cuộc hội đàm, hai bên cùng đề cập đến những vấn đề hợp tác song phương, đặc biệt về các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2004, Thủ tướng Koizumi cũng thăm Việt Nam trong khuôn khổ tham dự Hội nghị ASEM5. Cũng năm 2004, hai nước ký Tuyên bố chung vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững. Nhận lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 18 đến 22/10/2006. Đây là chuyến thăm chính thức Nhật Bản đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi nhậm chức tháng 7/2006.
Chuyến viếng thăm đã đi đến tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản, xác định quan hệ hai nước hướng tới xây dựng "đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á".