Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM 1. Cơ sở lí luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm về FDI đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế, phân loại và sử dụng trong công tác thống kê thế giới. Trong Báo cáo cán cân thanh toán quốc tế hàng năm. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (năm 1993) đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lí một cách có hiệu quả doanh nghiệp.
235] Uỷ ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD), trong báo cáo đầu tư thế giới năm 1996 đã đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài) đối với một doanh nghiệp ở nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh doanh nghiệp ở nước ngoài). [38] Theo “Giáo trình đầu tư quốc tế” của Vũ Chí Lộc, Nxb. Giáo dục, năm 1997, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài là đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm dành quyền điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại.13] Trong cuốn sách “Chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” của Trần Thị Minh Châu, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2007, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó nhà đầu tư bỏ vốn trực tiếp hình thành các năng lực sản xuất và quản lí quá trình vận hành năng lực sản xuất đó.” 15 Mặc dù có nhiều khác biệt về quan niệm, nhưng nhìn chung đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu như là một hoạt động kinh doanh mà ở đó có sự tách biệt trong sử dụng vốn và quản lí đầu tư.
Thời gian đầu tư thường là trung và dài hạn. Trái lại, nếu chủ đầu tư bỏ tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái khoán, … nhằm hưởng lợi, mà không trực tiếp quản lí tài sản của mình thì được gọi là đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính. Thời gian đầu tư thường là ngắn hạn. Sự phân biệt giữa hai hình thức đầu tư trên có tính tương đối.
Bởi vì, ngày nay do sự phát triển của thị trường tài chính nên tài sản của nhiều doanh nghiệp không phải chỉ là sở hữu của một người mà thuộc về nhiều người. Vì thế, nếu người nào có giá trị cổ phiếu không lớn nhưng lại có tỷ phần cao hơn so với nhiều cổ đông khác thì người đó có quyền được tham gia quản lí trực tiếp doanh nghiệp. Khi đó, họ từ những người đầu tư gián tiếp lại chuyển sang đầu tư trực tiếp. Ngược lại, những người đang trực tiếp quản lí tài sản của mình tại doanh nghiệp, nhưng khi bị người khác mua lại để mở rộng đầu tư với số vốn áp đảo làm cho giá trị tài sản của họ không đủ tỷ phần tham gia quản lí trực tiếp doanh nghiệp thì khi đó họ lại trở thành nhà đầu tư gián tiếp.
Thực tế cho thấy các hình thức đầu tư này luôn chuyển hóa, đan xen lẫn nhau và trong nhiều trường hợp khó phân biệt một cách rạch ròi giữa chúng. Theo cách tính của IMF, nếu chủ đầu tư nắm giữ 10 % giá trị tài sản của doanh nghiệp thì họ được tính là nhà đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, cách tính này có tính tương đối, bởi vì trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10 % nhưng họ vẫn được quyền trực tiếp điều hành quản lí doanh nghiệp, trong khi đó có nhiều trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản của chủ đầu tư lớn hơn 10 % nhưng họ vẫn chỉ là những người đầu tư gián tiếp. Tóm lại: Qua các khái niệm về FDI, tác giả rút ra một khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hình thức của đầu tư quốc tế được đặc trưng bởi quá trình di chuyển vốn tư bản, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.
Nguyên nhân dẫn đến sự di chuyển vốn đầu tư nước ngoài Thực tế cho thấy các nước phát triển có nguồn vốn và công nghệ khá lớn. Trong khi đó, các nước chậm phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn, nhân lực có trình độ và tay nghề cao, công nghệ và kinh nghiệm quản lí, điều hành. Các nước kém phát triển này có nguồn nhân công dồi dào, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và có nhu cầu phát triển khá hơn. Đây chính là cơ hội đầu tư đầy triển vọng của các nhà đầu tư nước ngoài để tìm kiếm cơ hội kinh doanh.
Hơn nữa, đầu tư trong nước đang có xu hướng chững lại và khả năng sinh lời thấp. Vì thế, đầu tư ra nước ngoài đã trở thành nhu cầu tất yếu. Theo quan điểm kinh tế vĩ mô Trong hệ thống lí thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư quốc tế, có quan điểm đáng chú ý khi giải thích về FDI. Quan điểm này cho rằng “Nguyên nhân xuất hiện FDI là do có sự chênh lệch về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giữa các nước”.
Các lí thuyết này giải thích hiện tượng FDI dựa trên mô hình cổ điển 2 x 2 (hai quốc gia, hai hàng hóa, hai yếu tố sản xuất) để so sanh hiệu quả của vốn đầu tư hoặc tỷ suất lợi nhuận. Từ đó giải thích và dự đoán hiện tượng đầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, lao động, công nghệ) giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư, đặc biệt là giữa các nước phát triển và đang phát triển. Mô hình Heckcher & Ohlin Lý thuyết này được xây dựng dựa trên các giả định: (1) Hai nước tham gia trao đổi hàng hóa hoặc đầu tư (nước I và nước II), hai yếu tố sản xuất (lao động - L và vốn - K), sản xuất ra hai hàng hoá (X và Y); (2) trình độ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu, hiệu quả kinh tế theo qui mô ở hai nước như nhau; (3) thị trường tại hai nước là cạnh tranh hoàn hảo, không có chi phí vận tải, không có sự can thiệp của chính sách, không hạn chế đầu tư, vốn được di chuyển tự do trong phạm vi quốc gia, nhưng không được di chuyển trên phạm vi quốc tế; (4) thiếu sự chuyên môn hóa trong sản xuất hai hàng hóa ở hai quốc gia; (5) cả hai nước đều sử dụng hết các nguồn lực sản xuất; (6) và có sự cân bằng trong trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia. Từ giả định này, mô hình HOS phân tích tỷ lệ chi phí của các yếu tố sản xuất (L và 17 K) ở hai nước và chỉ ra rằng sản lượng của hai nước sẽ tăng lên nếu mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố sản xuất dư thừa và tiết kiệm yếu tố khan hiếm; ngược lại sẽ nhập khẩu những hàng hóa có chứa ít hàm lượng yếu tố dư thừa mà dùng nhiều yếu tố khan hiếm.
Mô hình này còn được gọi là lý thuyết các yếu tố sản xuất (Dominick Salvantore, 1993). [22] Mô hình của Richard S. Eckaus Dựa trên mô hình lí thuyết HO, Richard S. Eckaus đã loại bỏ giả định “không có sự di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các nước” để mở rộng phân tích nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế.
Eckaus, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện di chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Ông cho rằng, nước đầu tư là nước có hiệu quả sử dụng vốn thấp (tình trạng thừa vốn), trong khi nước nhận đầu tư lại có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn (tình trạng thiếu vốn). Vì vậy, chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn giữa các nước làm xuất hiện sự lưu chuyển của dòng vốn FDI từ nước này sang nước khác. [22] Mô hình MacDougall – Kemp (1964) Cùng với quan điểm của Richard S.
MacDougall đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra kết luận của mình về nguyên nhân sự di chuyển vốn đầu tư quốc tế trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích của của di chuyển vốn quốc tế là do sự chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Kemp đã phát triển thành mô hình MacDougall – Kemp. Mô hình này lý giải nguyên nhân đầu tư quốc tế xuất phát từ những nước phát triển (thừa vốn) có năng suất cận biên thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước đang phát triển. Do đó, đầu tư quốc tế nhằm di chuyển vốn sang các nước đang phát triển để tận dụng năng suất cận biên vốn cao hơn.
[15] Theo mô hình của MacDougall – Kemp, đầu tư quốc tế đã làm tăng sản lượng của cả hai nước, nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Hay nói cách khác, đầu tư quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia nói riêng và thế giới nói chung. 18 Mô hì nh c ủa K. K ojima Kojima đưa ra một cách lí giải khác về nguyên nhân xuất hiện FDI là do sự khác nhau về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của mô hình Heckcher - Ohlin- Samuelson.
Theo tác giả, nguyên nhân hình thành FDI là do có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước và sự chênh lệch này bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế dựa trên bốn loại động lực: đầu tư khai thác lợi thế tự nhiên, đầu tư hướng vào nguồn nhân lực dồi dào, đầu tư hướng về thị trường có rào cản thương mại và đầu tư theo định hướng thị trường độc quyền. [22] So với các lí thuyết trước, cách giải thích của K. Kojima tỏ ra gần hiện thực hơn.