CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN 1. Tổng quan về FDI 1. Khái niệm Hoạt động đầu tư quốc tế hình thành từ khi con người bắt đầu biết đến các hình thức trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài lại ra đời tương đối muộn vào thế kỷ 19 và ngay khi ra đời đã nhanh chóng xác lập vị trí của mình, trở thành một xu thế tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa.
Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về FDI được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế lớn như Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO): Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (theo IMF, 1993, Balance of Payments Manual, The fifth edition). Theo OECD: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (>5 năm) (theo OECD, 2008, Detailed Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, The forth edition). Hai khái niệm trên nhấn mạnh đến các lợi ích dài hạn. Khi tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chi phí bỏ ra tương đối tốn kém nên các nhà đầu tư thường nhằm đến các mục tiêu lợi ích dài hạn.
Muốn đạt được mục tiêu này đòi hỏi các nhà đầu tư trực tiếp phải có mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp nhận đầu tư và tạo mức độ ảnh hưởng đáng kể để có thể quản lý doanh nghiệp này. Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước nhận đầu tư) cùng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác (theo WTO, 1996, Trade and foreign investment) Về phía Việt Nam, ngay khi tiến hành hoạt động mở cửa kinh tế và thu hút nguồn vốn từ bên ngoài đã đặt ra vấn đề cho luật pháp về việc điều hành và quản lý hoạt động của các doanh ngiệp có nguồn vốn từ bên ngoài. Trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”.
Tuy nhiên, đối với Luật Đầu tư Việt Nam 2005 dùng thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 lại chỉ đưa ra các khái niệm “ Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (điều 3 khoản 1), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 2) và ngay cả Luật Đầu tư 2014 cũng chỉ đưa ra khái niệm “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” (điều 3 khoản 14) giống như điều 3 khoản 12 của Luật Đầu tư 2005 mà không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Thông qua các khái niệm trên có thể suy ra điểm quan trọng của FDI đó là sự dịch chuyển vốn đầu tư từ nước này sang nước khác. Nước mà người chủ đầu tư định cư là nước chủ đầu tư; nước mà ở đó hoạt động đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư hay nước chủ nhà.
Đặc biệt, FDI nhấn mạnh đến quyền kiểm soát của doanh nghiệp ở quốc gia này đối với tài sản ở quốc gia khác. Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm FDI là hình thức đầu tư nước ngoài với mục đích chính của các nhà đầu tư là nắm quyền quản lý doanh nghiệp nên hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt: - FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận: trong luật pháp và tài liệu của nhiều nước quy định FDI là đầu tư tư nhân. Một số nước khác trong đó có Việt Nam lại quy định chủ thể tham gia đầu tư trực tiếp nước ngoài ngoài tư nhân còn có thể là nhà nước.
Tuy nhiên, dù quy định thế nào về chủ thể thì mục đích hàng đầu, quan trọng nhất vẫn là lợi nhuận và cùng với đó nảy sinh nhiều vấn đề như chuyển giá gây thất thu ngân sách nước nhận đầu tư hay các vấn đề về môi trường. Vì vậy, các nước tiếp nhận nguồn vốn FDI đặc biệt là các nước đang phát triển cần phải đăc biệt lưu ý, xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để định hướng FDI vào phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế xã hội đất nước mình, tránh tình trạng FDI trở thành công cụ chỉ để phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư. - Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ này ở các nước quy định không giống nhau.
Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Anh và Pháp là 20%, Việt Nam là 30% đối với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Tỷ lệ vốn góp của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, cùng với đó là lợi nhuận và rủi ro mà mỗi chủ đầu tư được phân chia. - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, chủ động trong sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả lỗ, lãi của dự án. Thu nhập của doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh mà họ đầu tư.
Các chủ đầu tư có quyền quyết định lĩnh vực đầu tư, quy mô, cơ cấu doanh nghiệp, địa điểm, công nghệ và kỹ thuật áp dụng phù hợp với luật pháp nước nhận đầu tư; bên cạnh đó nhà đầu tư có thể chủ động trong chiến lược, tạo động lực tập trung thúc đẩy sản xuất để có lợi nhuận cao. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT - FDI thường kèm theo chuyển gia công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc sử dụng các máy móc, thiết bị, bằng sáng chế, bí quyết công nghệ, cũng như các cán bộ, kỹ sư giàu kinh nghiệm…vào các dự án ở nước nhận đầu tư. Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm và nguồn thu ngân sách cho các nước nhận đầu tư, chuyển giao công nghệ là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển trong việc nâng cao trình độ khoa học công nghệ, để góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây cũng là khác biệt cũng như là ưu điểm lớn nhất của FDI so với các hoạt động đầu tư nước ngoài khác.
Phân loại Căn cứ vào các vấn đề liên quan đến việc đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài lại có các cách phân loại khác nhau như căn cứ theo cách thức xâm nhập, định hướng của chủ đầu tư, quan hệ ngành nghề và lĩnh vực giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư, định hướng của nước nhận đầu tư và theo hình thức pháp lý. Theo cách thức xâm nhập FDI thường bao gồm hai hình thức xâm nhập: - Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Đây là hình thức thường được các nước nhận đầu tư khuyến kích thực hiện vì giúp tăng thêm vốn, việc làm và các giá trị gia tăng. - Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition): Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư.
Đây là hình thức được các chủ đầu tư ưa chuộng sử dụng hơn hình thức đầu tư mới vì chi phí đầu tư thấp hơn, tận dụng những lợi thế sẵn có, cơ sở vật chất của doanh nghiệp trước đó, giảm thời gian nghiên cứu thị trường, hạn chế rủi ro và cho phép doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhanh hơn. Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư - FDI theo chiều dọc (vertical FDI): là hình thức nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT phân phối ở nước nhận đầu tư. Thông qua đó, doanh nghiệp nhận đầu tư và chủ đầu tư trở thành một dây chuyền thống nhất từ khâu sản xuất tới khi phân phối tới người tiêu dùng.