Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại miền bắc việt nam

Tìm hiểu các nhân tố tác động đến đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi từ nguồn vốn ngân sách tại miền Bắc Việt Nam. Phân tích chuyên sâu, thông tin hữu ích.

Chuyên ngành

Kinh Tế Đầu Tư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2025

218
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM KẾT

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ HỘP

MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các kết quả đạt được (Những đóng góp mới của đề tài)

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách Nhà nước và hoạt động đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng vốn ngân sách nhà nước

1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi

1.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng vốn ngân sách nhà nước

1.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.6. Khoảng trống nghiên cứu

1.7. Câu hỏi nghiên cứu

1.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THỦY LỢI SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.1. Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách

2.1.1. Hệ thống thủy lợi

2.1.2. Đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi

2.1.3. Đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

2.1.4. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển hệ thống công trình thủy lợi sử dụng ngân sách Nhà nước

2.2.1. Nhân tố điều kiện tự nhiên

2.2.2. Nhân tố Kinh tế và chính sách

2.2.3. Nhân tố Chính trị, văn hoá xã hội

2.2.4. Nhân tố Chủ đầu tư

2.2.5. Nhóm nhân tố đơn vị nhà thầu

2.3. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

2.3.1. Mô hình nghiên cứu

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THỦY LỢI SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM

3.1. Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi ở Việt Nam

3.2. Hiện trạng hạ tầng thủy lợi ở miền Bắc Việt Nam

3.3. Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi ở miền Bắc Việt Nam

3.4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng ngân sách Nhà nước ở miền Bắc Việt Nam

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu

3.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.4.4. Kết quả phân tích

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC TỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THỦY LỢI SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

4.1. Định hướng chiến lược thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

4.2. Chiến lược phát triển thủy lợi khu vực miền Bắc Việt Nam

4.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng ngân sách Nhà nước tại miền Bắc Việt Nam

4.3.1. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn

4.3.2. Nhóm giải pháp cải thiện nhân tố địa phương

4.3.3. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực nhà thầu thi công công trình

4.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH SỰ PHÙ HỢP CỦA THANH ĐO NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 3: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ

Tóm tắt

I. Tổng quan về đầu tư thủy lợi miền Bắc Thực trạng và tiềm năng

Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể. Trong đó, nông nghiệp vẫn đóng tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nước ta hiện nay và phát triển hệ thống thủy lợi đóng một vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, theo báo cáo của Tổng cục Thủy lợi trong những năm vừa qua, công tác thủy lợi tiếp tục đối mặt với những thách thức, yêu cầu mới cao hơn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Biến đổi khí hậu ngày càng tác động lớn đến cuộc sống con người, môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các tác nhân xấu, bệnh dịch nguy hiểm sinh sôi và lan rộng, đặc biệt là tại các tỉnh phía Bắc nước ta với khi hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình đa dạng. Các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu qua việc gia tăng các đợt không khí lạnh với nhiệt độ giảm sâu, mưa bão và thời tiết bất ổn, sạt lở đất và lũ quét thường xuyên xảy ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp, đời sống cộng đồng và cơ sở hạ tầng khu vực này. Tỉnh Quảng Ninh và các đảo ven biển như Cát Bà cũng đang chịu tác động từ tăng mực nước biển, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu. Điều này gây ra mất mát đất đai, môi trường biển bị ô nhiễm và ảnh hưởng đến nguồn sống của cộng đồng dân cư nơi đây. Thêm vào đó, các tỉnh như Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định thường xuyên phải đối mặt với ngập lụt, trong khi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải và các hệ thống thủy lợi khu vực đồng bằng sông Hồng lại đang xuống cấp. Vì vậy, việc đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi khu vực phía Bắc nước ta được đánh giá là cấp bách và phải ưu tiên hàng đầu. Các dự án thủy lợi được thực hiện chiếm một tỷ trọng lớn là các dự án phục vụ đời sống nhân dân, công trình công cộng, kiểm soát thiên tai, biến đổi khí hậu…nên nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thực hiện dài, thời gian thu hồi vốn dài, nhanh xuống cấp, độ rủi ro cao. Nguồn vốn được sử dụng cho những dự án này phần lớn là nguồn vốn ngân sách nhà nước và hiện nay đang có xu hướng giảm đi.

1.1. Tầm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp miền Bắc

Hệ thống thủy lợi đóng vai trò sống còn trong việc đảm bảo năng suất và ổn định của nông nghiệp miền Bắc. Việc cung cấp nước tưới tiêu đầy đủ và kịp thời, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, là yếu tố then chốt để duy trì và phát triển sản xuất nông nghiệp, từ trồng lúa, rau màu đến các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hơn 70% diện tích đất canh tác tại miền Bắc phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi. Do đó, việc đầu tư và nâng cấp hệ thống này không chỉ là nhu cầu cấp thiết mà còn là chiến lược dài hạn để đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao đời sống cho người dân.

1.2. Hiện trạng và thách thức của hạ tầng thủy lợi hiện nay

Mặc dù đã có những đầu tư nhất định, hệ thống hạ tầng thủy lợi miền Bắc vẫn còn nhiều hạn chế và đối mặt với không ít thách thức. Nhiều công trình đã xuống cấp, lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sản xuất nông nghiệp hiện đại. Tình trạng ngập lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô vẫn thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại lớn cho kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh đó, việc quản lý và khai thác hệ thống thủy lợi còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết hiệu quả. Một trong những vấn đề nan giải là việc thiếu nguồn lực tài chính để duy trì, bảo dưỡng và nâng cấp hệ thống. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn để giải quyết những thách thức này.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đầu tư thủy lợi miền Bắc

Quá trình đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng thủy lợi ở khu vực miền Bắc nước ta còn nhiều bất cập. Ví dụ là có nhiều vấn đề liên quan đến chính sách. Phần lớn các dự án đầu tư phát triển thủy lợi đều có vướng mắc ở khâu giải phóng mặt bằng do phải thu hồi diện tích đất lớn. Các cơ chế liên quan đến việc đền bù đất đai và hỗ trợ tái định cư vấn chưa thỏa đáng dẫn tới một số bộ phận người dân nằm trong diện bị thu hồi đất không hợp tác. Công tác tuyên truyền luật pháp, chính sách chưa sâu rộng dẫn tới xuất hiện nhiều ý kiến sai lệch, trái chiều lan truyền trong cộng đồng dân cư gây hoang mang dư luận. Các chính sách về kinh tế, bình ổn giá cả thị trường kém hiệu quả, giá vật liệu leo thang dẫn tới nhiều nhà thầu phải chấp nhận đơn phương chấm dứt hợp đồng vì nếu tiếp tục làm thì thiệt hại về tài chính sẽ rất lớn. Nguy cơ tiến độ dự án bị kéo dài là rất lớn. Đôi khi, các chính sách liên quan đến thủy lợi không được đồng bộ và liên kết chặt chẽ. Việc thiếu sự đồng nhất và tương thích giữa các chính sách về tài nguyên nước, nông nghiệp và môi trường có thể gây ra sự phân tán và không hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thủy lợi.

2.1. Tác động của chính sách và thể chế đến đầu tư thủy lợi

Chính sách và thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và thúc đẩy đầu tư thủy lợi. Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về vốn, thuế, đất đai sẽ tạo động lực cho các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ, chồng chéo hoặc chậm trễ trong việc ban hành chính sách có thể gây khó khăn cho quá trình triển khai dự án. Bên cạnh đó, thể chế quản lý còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính rườm rà cũng là một trong những yếu tố cản trở đầu tư thủy lợi. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, việc cải thiện môi trường pháp lý và thể chế có thể giúp tăng hiệu quả đầu tư thủy lợi lên đến 15-20%.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và biến đổi khí hậu

Điều kiện tự nhiên, đặc biệt là biến đổi khí hậu, có tác động không nhỏ đến đầu tư thủy lợi. Tình trạng hạn hán, ngập lụt, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng đòi hỏi phải có những giải pháp thủy lợi phù hợp để ứng phó. Việc lựa chọn địa điểm xây dựng, thiết kế công trình phải tính đến các yếu tố địa hình, địa chất, thủy văn để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của dự án. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, miền Bắc sẽ phải đối mặt với nhiều đợt hạn hán kéo dài và lũ lụt nghiêm trọng trong tương lai. Do đó, việc đầu tư thủy lợi phải đi đôi với các giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

2.3. Vai trò của nguồn vốn và hiệu quả đầu tư thủy lợi

Nguồn vốn là yếu tố quyết định đến quy mô và chất lượng của đầu tư thủy lợi. Việc huy động đủ nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, là điều kiện tiên quyết để triển khai các dự án lớn, trọng điểm. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn phải đảm bảo hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát. Cần có cơ chế giám sát, đánh giá chặt chẽ để đảm bảo các dự án được thực hiện đúng tiến độ, đạt chất lượng và mang lại lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, hiệu quả đầu tư thủy lợi còn thấp so với các lĩnh vực khác, đòi hỏi phải có những giải pháp cải thiện.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư thủy lợi miền Bắc

Năng lực của chủ đầu tư các dự án đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi cũng cần phải được nhắc tới. Dự án đầu tư hồ chứa nước Cánh Tạng (Hòa Bình) là một trong ba dự án trọng điểm nhóm A còn lại của kế hoạch đầu tư trung hạn 2016-2020 đang còn hàng loạt vướng mắc về chậm giải phóng mặt bằng và phát sinh chi phí đền bù, tái định cư. Nguyên nhân chính là do công tác khảo sát yếu kém dẫn đến hàng loại các phát sinh ngoài dự kiến có thể làm đội vốn tổng mức đầu tư lên rất nhiều. Vì vậy, những dự án này có thể sẽ bị cắt vốn trong khi đang đầu tư dang dở. Một số chủ đầu tư còn không được đào tạo, thiếu cập nhật các công nghệ thủy lợi tiên tiến dẫn đến sự lúng túng trong công tác quản lý, giảm hiệu quả trong việc đánh giá, lập kế hoạch và quản lý dự án. Nhà thầu năng lực yếu kém quản lý điều phối nguồn lực không hợp lý gây chậm tiến độ. Chất lượng nguồn lực kém, năng lực quản lý thi công yếu kéo tụt chất lượng công trình thủy lợi xuống rất nhiều.

3.1. Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thủy lợi

Để nâng cao hiệu quả đầu tư thủy lợi, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý trong lĩnh vực này. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thủy lợi, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và phù hợp với thực tiễn. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc quản lý và khai thác hệ thống thủy lợi. Đẩy mạnh phân cấp, trao quyền tự chủ cho các đơn vị quản lý, khai thác thủy lợi. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý, giám sát.

3.2. Áp dụng công nghệ và giải pháp thủy lợi tiên tiến

Ứng dụng công nghệ và giải pháp thủy lợi tiên tiến là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư. Cần khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các công nghệ thủy lợi mới, phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của miền Bắc. Áp dụng các giải pháp tưới tiêu tiết kiệm nước, tưới thông minh, sử dụng năng lượng tái tạo trong thủy lợi. Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về thủy lợi để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

3.3. Nâng cao năng lực quản lý đầu tư và nguồn nhân lực

Nâng cao năng lực quản lý đầu tư và nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả của các dự án thủy lợi. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật viên trong lĩnh vực thủy lợi. Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý dự án, giám sát thi công, vận hành công trình. Xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi về thủy lợi, có khả năng nghiên cứu, tư vấn, thiết kế các công trình hiện đại, bền vững. Tạo điều kiện cho các cán bộ, kỹ thuật viên được học tập, trao đổi kinh nghiệm với các nước tiên tiến trên thế giới.

IV. Nghiên cứu điển hình Ứng dụng thủy lợi thành công tại miền Bắc

Có thể thấy, các nhân tố như điều kiện tự nhiên, thể chế chính sách, chính trị, văn hóa xã hội, chủ đầu tư, nhà thầu có tác động lớn tới hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong giai đoạn thực hiện. Vì vậy để phát triển ngành thủy lợi nói chung, phát triển hệ thống thủy lợi ở nước ta nói riêng, các nhà hoạch định chính sách cần có những thông tin cụ thể, những nghiên cứu có hệ thống và việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư này đóng vị trí tương đối quan trọng.

4.1. Mô hình tưới tiết kiệm nước tại Bắc Giang Bài học kinh nghiệm

Tỉnh Bắc Giang đã triển khai thành công mô hình tưới tiết kiệm nước cho cây ăn quả, mang lại hiệu quả kinh tế cao và giảm thiểu tác động đến môi trường. Mô hình này sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa, giúp tiết kiệm 30-50% lượng nước so với phương pháp tưới truyền thống. Đồng thời, giảm chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Bài học kinh nghiệm từ Bắc Giang là cần lựa chọn công nghệ tưới phù hợp với từng loại cây trồng, điều kiện địa hình, thổ nhưỡng. Cần có sự tham gia của người dân vào quá trình thiết kế, vận hành, bảo dưỡng hệ thống. Cần có chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật để khuyến khích người dân áp dụng.

4.2. Dự án hồ chứa nước Cánh Tạng Giải pháp thoát lũ miền Bắc

Dự án hồ chứa nước Cánh Tạng (Hòa Bình) là một trong những công trình thủy lợi trọng điểm của miền Bắc, có vai trò quan trọng trong việc thoát lũ cho vùng hạ lưu sông Hồng. Hồ chứa nước có dung tích lớn, có khả năng điều tiết dòng chảy, giảm nguy cơ ngập lụt vào mùa mưa. Đồng thời, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các ngành kinh tế khác vào mùa khô. Tuy nhiên, dự án cũng gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình triển khai, như chậm giải phóng mặt bằng, phát sinh chi phí đền bù, tái định cư. Bài học kinh nghiệm từ dự án này là cần làm tốt công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, địa phương trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh. Cần đảm bảo quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng bởi dự án.

V. Kết luận và định hướng phát triển thủy lợi miền Bắc

Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nhưng chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể là đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi. Còn những nghiên cứu khoa học về thủy lợi thì thường tập trung giải quyết vấn đề kỹ thật thủy lợi như phát triển kỹ thuật xây dựng đê điều, kênh rạch, trạm bơm nước, hồ chứa, đê biển,., tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề thiên tai, ngập mặn tới một đối tượng xác định,. Thêm vào đó, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi trong quá trình thực hiện đầu tư. Vấn đề này vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu kỹ và toàn diện để trả lời. Chính vì vậy nghiên cứu sinh chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại miền Bắc Việt Nam” với mục đích dựa trên những kiến thức đã nghiên cứu, các thông tin tham khảo được và kinh nghiệm thực tế công tác để giải quyết bài toán phát triển ngành thủy lợi tại miền Bắc nước ta nói riêng, ngành thủy lợi cả nước nói chung cũng như phát triển nền kinh tế Việt Nam.

5.1. Tầm nhìn và mục tiêu phát triển thủy lợi đến năm 2030

Đến năm 2030, hệ thống thủy lợi miền Bắc cần được nâng cấp, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đảm bảo an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường. Xây dựng ngành thủy lợi phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Tăng cường năng lực quản lý và khai thác hệ thống thủy lợi, sử dụng hiệu quả nguồn nước, giảm thiểu thất thoát. Khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển thủy lợi.

5.2. Các bước đột phá để hiện thực hóa tiềm năng thủy lợi

Để hiện thực hóa tiềm năng thủy lợi, cần có những bước đột phá về chính sách, công nghệ và nguồn nhân lực. Cần tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân vào lĩnh vực thủy lợi. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ thủy lợi tiên tiến, thủy lợi thông minh. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên thủy lợi. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy lợi, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến. Phát huy vai trò của cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ hệ thống thủy lợi.

18/09/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại miền bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách Nhà nước và hoạt động đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước Đầu tư được định nghĩa là một hoạt động kinh tế của đất nước; một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở, một vấn đề trong cuộc sống mà mọi gia đình, mọi cá nhân quan tâm khi có điều kiện nhằm gia tăng thu nhập và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bản thân và gia đình. Đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm. Đầu tư phát triển được định nghĩa là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động, trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác; là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao chất lượng đời sống của người dân trong xã hội.

Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và hệ thống thủy lợi, mua sắm lắp đặt trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Đầu tư phát triển đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách, nguồn vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư phát triển khá đa dạng: Nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Đầu tư phát triển được thực hiện theo các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thực hiện có những đặc thù riêng nhưng vẫn mang những điểm chung nhất về đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư phát triển có thể thực hiện theo dự án, theo hạng mục công trình hoặc các phương thức thực hiện khác (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013) Đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế ở Việt Nam, không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP mà còn thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển thông qua các hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội như điện, đường, trường, trạm, thủy lợi… Vốn ngân sách Nhà nước - một trong những nguồn vốn quan trọng nhất cho hoạt động đầu tư phát triển khi xem xét mảng đầu tư công, đầu tư cơ sở hạ tầng, đã trở 6 thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học. Vì vậy có rất nhiều lý thuyết nhất quán và toàn diện cung cấp những góc nhìn chính xác và tổng quát nguồn vốn này.

Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư tư nhân và đầu tư phát triển, theo đó đầu tư phát triển thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó phải được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng đó.

Đầu tiên, một nghiên cứu gần đây hơn của Ngân hàng Thế giới (2007) đã kết luận rằng có những tác động tăng trưởng tích cực của chi tiêu cho đầu tư phát triển nói chung và cơ sở hạ tầng, giáo dục và chi tiêu y tế nói riêng. Báo cáo từ Commission on Growth and Development (2008) đã đi đến một kết luận mạnh mẽ hơn bằng cách lưu ý rằng một yếu tố phổ biến ở các nước tăng trưởng nhanh là đầu tư phát triển sử dụng nguồn vốn ngân sách ở mức cao, được xác định là 7% GDP trở lên. David Alan Aschauer và cộng sự (1993) khẳng định sự gia tăng chi tiêu nguồn vốn ngân sách cho đầu tư phát triển là cách an toàn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu điều tra mối quan hệ giữa vốn ngân sách nhà nước, năng suất và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh tăng trưởng nội sinh và kết quả nhận được là có một mối quan hệ phi tuyến tính giữa vốn ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế sao cho tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước tăng lên vĩnh viễn làm tăng trưởng vĩnh viễn - nhưng chỉ khi sản phẩm cận biên của vốn ngân sách nhà nước vượt quá sản phẩm cận biên sau thuế của tư nhân và sự gia tăng vốn ngân sách nhà nước sẽ có tác động nhất thời, nhưng không lâu dài, đối với tăng trưởng kinh tế.

Tiếp nối cho nghiên cứu trên Serkan Arslanalp và cộng sự (2010) đã ước tính tác động của nguồn vốn cho đầu tư phát triển về tăng trưởng kinh tế cho 48 nước trong khối OECD và các nước không thuộc OECD trong thời gian từ năm 1960 đến năm 2001. Kết quả cho thấy có sự tương quan tích cực giữa vốn đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, hiệu quả mạnh hơn đối với các nước OECD trong ngắn hạn, trong khi đó mạnh hơn đối với các nước không thuộc OECD trong dài hạn. Tác giả đề 7 xuất chính phủ nên tập trung mở rộng vốn đầu tư phát triển, đặc biệt là vốn ngân sách Nhà nước và các nước đang phát triển có thể dựa vào vốn vay nước ngoài miễn sao tập trung đầu tư, sử dụng vốn có hiệu quả cho những công trình mang mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế như cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin,.

Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm của nghiên cứu của David Alan Aschauer và cộng sự (1993) chỉ ra sự thiếu hiệu ứng hội tụ giữa các nền kinh tế nhà nước. Từ góc độ chính sách, điều này ngụ ý rằng những thay đổi trong các biến chính sách của chính phủ chẳng hạn như tăng vốn ngân sách nhà nước thường xuyên hoặc giảm vĩnh viễn chi tiêu tiêu dùng của chính phủ sẽ làm thay đổi vĩnh viễn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả này tương thích với một số công việc thực nghiệm gần đây, chẳng hạn như Kocherlakota và Yi (1996). Bên cạnh đó, tác giả V.Key Jr (1940) đã nhận ra sự cần thiết của một học thuyết về ngân sách Nhà nước, trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra các vấn đề khi không có lý thuyết ngân sách và phân tích tầm quan trọng của nó trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng như gia tăng hiệu quả phân bổ ngân sách của Chính phủ.

Tác giả cũng chỉ ra rằng điểm quan trọng nhất khi xem xét về ngân sách Nhà nước chính là việc phân bổ các khoản chi tiêu với những mục đích khác nhau để kết quả thu được là tối ưu nhất. Tác động của vốn ngân sách Nhà nước đối với tăng trưởng kinh tê rất đa dạng. Roy và cộng sự (2006) đã lập luận rằng ngân sách Nhà nước eo hẹp, hạn chế đầu tư phát triển nhiều hơn chi tiêu hiện tại vì việc cắt giảm trước đây vì lý do chính trị và các lý do khác dẫn đến kinh tế phát triển chậm hơn mức có thể. Từ đó Heller (2005) đã đề xuất chính phủ nên dành sự quan tâm nhiều hơn đối với đầu tư phát triển, nhiều nhất là mảng cơ sở hạ tầng và tạo ra không gian tài chính cho khoản đầu tư đó và chứng minh rằng đầu tư cho phát triển là hiệu quả.

Tiếp đó, những khoản vay bên ngoài có nhiều ràng buộc là nguyên nhân dẫn đến các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn này kém hiệu quả. Mặc dù khả năng vay mượn của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào các chính sách kinh tế vĩ mô của nó, khả năng thu thuế, và sức mạnh của hệ thống quản lý tài chính và nợ công cộng, sự đóng góp của các khoản đầu tư phát triển được tài trợ bằng nợ để tăng trưởng và xuất khẩu cũng đóng một vai trò trong giới hạn vay bên ngoài. Đồng thời, chính sách tài khóa có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng và phục hồi là điều đã được công nhận trong những cuộc khủng hoảng tài chính gần đây. Các gói kích thích tài khóa ở nhiều quốc gia chủ yếu là vốn ngân sách nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai.

8 Khoảng những năm 1930, tác giả Mabel L Walker cũng đã nhìn thấy tầm quan trọng của chi tiêu sử dụng ngân sách Nhà nước, trong nghiên cứu của mình tác giả xem xét về việc phân bổ chi ngân sách, nguyên lý chi tiêu ngân sách đã được tác giả tìm hiểu và phân tích. Mabel đã tổng hợp những lý thuyết liên quan đến chi tiêu ngân sách nhà nước và trên cơ sở đó phát triển và xây dựng một lý thuyết mới định hướng cho việc phân bổ chi tiêu sử dụng ngân sách Nhà nước, những lý thuyết về ngân sách Nhà nước đã có những bước tiến theo thời gian từ phương thức quản lý nguồn ngân sách theo các khoản mục đến quản lý nguồn ngân sách theo công việc thực hiện, theo chương trình cho đến phương thức quản lý nguồn ngân sách theo kết quả đầu ra. Và mỗi phương thức quản lý ngân sách đó lại có những ưu nhược điểm riêng nhưng đều có chung một điểm đó là tất cả các phương thức quản lý đó đều ngày càng hoàn thiện theo thời gian qua quá trình quản lý thực tiễn ở các quốc gia khác nhau. Martin và cộng sự (2010) đã so sánh và chỉ ra rất rõ sự phát triển trong các lý thuyết về ngân sách, tác giả đã khẳng định ưu thế của phương pháp quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, và phương thức này đã trả lời câu hỏi mà các nhà quản lý ngân sách luôn đặt ra đó là nên quyết định như thế nào để phân bổ một khoản tiền cho hoạt động này thay vì phân bổ cho hoạt động khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ