phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được bố cục với 3 chương, 8 tiết. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thị xã Sơn Tây giai đoạn 2000 - 2010. Chƣơng 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thị xã Sơn Tây trong thời gian tới.
6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Khái niệm và đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngày nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, cụm từ doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được sử dụng một cách phổ biến. Đối với các nước phát triển, khái niệm DNVVN được biết đến từ những năm đầu của thế kỷ XX và đã được quan tâm phát triển khu vực DNVVN từ những năm 50 của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam khái niệm DNVVN được nhắc đến nhiều là từ những năm 1990 đến nay. Dù đã được biết từ lâu, nhưng quan niệm về DNVVN thì mỗi nước có những quan niệm khác nhau. Điểm giống nhau duy nhất trong quan niệm về DNVVN là khái niệm này dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp được phân loại theo quy mô sản xuất của DN với những tiêu chí như vốn, lao động, doanh thu… Dựa vào quy mô, người ta căn cứ vào số lượng lao động thường xuyên có trên thực tế và tổng vốn đầu tư thể hiện tổng giá trị tài sản hoặc doanh thu trong năm của một doanh nghiệp. Các nước trên thế giới đã dựa vào hai tiêu thức này để xác định quy mô của loại hình DNVVN, nhưng ở mỗi nước, mức độ định lượng rất khác nhau.
Việc xác định quy mô DNVVN trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của nền kinh tế, tính chất ngành nghề hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Một số nước trên thế giới còn căn cứ vào tính chất ngành nghề kinh doanh của DN để xác định quy mô phân loại DNVVN. Nhìn chung, các tiêu chí để xác định thế nào là một DNVVN ở các nước trên thế giới tương đối rõ ràng, đó là dựa vào các tiêu chí như số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu (hay lợi nhuận) như Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số quốc gia Tên nƣớc Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu Mỹ Tất cả các ngành 500 Nhật Bản Chế tác 300 < 300 triệu yên Bán Buôn 100 100 triệu Bán lẻ 50 yên 50 triệu Dịch vụ 100 yên 100 triệu EU DN cực nhỏ < 10 yên DN nhỏ < 50 7 triệu ero DN vừa < 250 40 triệu ero Australia Chế tác nhỏ < 100 Chế tác vừa 100 Dịch vụ nhỏ 199 < 20 Dịch vụ vừa 20 Canađa Chế tác nhỏ 199 < 100 < 5 triệu CND Chế tác vừa 100 520 triệu Dịch vụ nhỏ 500 < 50 CND < 5 triệu CND Dịch vụ vừa 50 520 triệu Thái Lan Sản xuất nhỏ 500 50 triệu CND Sản xuất vừa 50bạt - 200 triệu bạt Bán buôn nhỏ triệu bạt Bấn buôn vừa 50 - 100 triệu bạt Bán lẻ nhỏ 30 triệu Bán lẻ vừa 30bạt - 60 triệu bạt Philipin DN nhỏ 10 1,515 triệu DN vừa 99 100 pêxô 1660 triệu Inđônêxia DN nhỏ 199 pêxô 200.000 100000 DN vừa USD - 100.000 USD 1000005000 Xingapo < 100 < 1,2 triệu đô la 00 Malaixia < 200 < 2,5 triệu ringít Nguồn: APEC 1998 và OECD 2000. 8 Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và các cách phân loại DNVVN cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước.
Năm 1993, chúng ta đã tiến hành phân loại DNVVN thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, hạng II, hạng III và hạng IV. Việc xác định các hạng doanh nghiệp trên dựa vào hai tiêu thức là độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua tám tiêu chí là: Vốn sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ, phạm vi hoạt động, số lượng lao động, mức độ đóng góp cho nhà nước, lợi nhuận thực hiện, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Việc xếp hạng các doanh nghiệp như vậy chủ yếu chỉ là để sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp và trả lương cho cán bộ quản lý chứ không mang tính chất định hướng cho sự phát triển của DNVVN. Trước năm 1998, Chính phủ chưa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể của DNVVN.
Do đó, mỗi tổ chức, địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về DNVVN nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình. Một số cách phân loại đáng chú ý đó là: - Ngân hàng Công thương đưa ra tiêu chí DNVVN đó là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người. - Thành phố Hồ Chí Minh lại xác định những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động thường xuyên có trên 100 người và doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp có quy mô vừa. Những doanh nghiệp dưới mức tiêu chuẩn trên là những doanh nghiệp nhỏ.
- Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNVVN dựa trên mục tiêu hỗ trợ của họ. Tổ chức này dựa vào quy mô vốn, số lao động, doanh thu và cả hình thức sở hữu để xác định DNVVN. Theo UNIDO, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh 9 nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên tử 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Sở dĩ UNIDO xác định DNVVN là DNTN vì theo quan điểm của họ, DNNN đã được Chính phủ hỗ trợ rồi.
Mục tiêu hỗ trợ của UNIDO và các tổ chức quốc tế khác chỉ là DNTN - đối tượng chưa được Chính phủ hỗ trợ và chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng của Chính phủ. [19] Ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành Văn bản số 681/CP-KTN về hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam. Theo đó, các DNVVN trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp có số vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng (tương đương 387.600 USD) và số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người; trong ngành thương mại, dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ đồng và số lao động dưới 200 người. Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 50 người trong công nghiệp và dưới 30 người trong thương mại dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ.
Văn bản số 681/CP- KTN của Chính phủ là căn cứ pháp lý quan trọng đầu tiên để xác định các đối tượng là DNVVN Việt Nam. Tiêu thức phân loại này không tính đến hình thức sở hữu, không phân biệt DNVVN hay DNTN. Do đó, căn cứ theo tiêu thức phân loại này thì có trên 90% doanh nghiệp Việt Nam thuộc diện DNVVN. Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ- CP về trợ giúp phát triển DNVVN.
Nghị định này đã đưa ra một định nghĩa chung về DNVVN để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp phát triển. Theo định nghĩa này, DNVVN là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã ĐKKD theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Như vậy, đối tượng được xác định là DNVVN bao gồm: - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; 10 - Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật DNNN; - Các HTX thành lập và hoạt động theeo Luật HTX; - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của Chính phủ. Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có ĐKKD và thỏa mãn hai tiêu thức lao động và vốn đưa ra tại Nghị đinh đều được coi là DNVVN Việt Nam.
Theo cách phân loại này, số DNVVN chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam. Tiêu thức phân loại DNVVN theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP là tương đối phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Để xác định DNVVN hay không chỉ căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp chứ không thể căn cứ vào loại hình sở hữu. Như vậy, sẽ có DNVVN là các DNNN và có DNVVN là doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân và cũng có DNVVN là các HTX.
Điều đó sẽ đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển một nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở lý thuyết và thực tế đã nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập hoạt động theo luật doanh nghiệp và pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và số lao động dưới 300 người. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Đặc điểm cơ bản của DNVVN ở Việt Nam thể hiện trên một số điểm như sau: Một là, quy mô doanh nghiệp nhỏ nên năng lực sản xuất - kinh doanh bị hạn chế, bao gồm cả năng lực về thiết bị - công nghệ, năng lực về vốn, năng lực về quản lý. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm đại đa số trong DNVVN.
Do đó, nhìn chung vốn kinh doanh của các DNVVN là ít và khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp này cũng có những hạn chế nhất định, đặc biệt là việc tiếp cận với các nguồn tín dụng thương mại của nhà nước còn gặp nhiều khó khăn. Thiết bị - công nghệ của DNVVN thường ở 11 mức dưới trung bình do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai hay tiếp nhận công nghệ tiên tiến. Khả năng quản lý tại các DNVVN có nhiều hạn chế, số lượng chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn cao hay đã qua các lớp đào tạo quản lý chính quy của nhà nước không nhiều.