Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thu h t đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào một địa phương. Chương 3: Thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 - 2020 Chương 4: Triển vọng và giải pháp thu hút dòng vốn FDI vào tỉnh kiên giang trong những năm tới 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu giải thích động cơ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đối với nhà đầu tư, thì họ sẽ tận dụng nguồn lực lớn mạnh của mình để tìm kiếm thị trường đầu tư ở các nước có môi trường đầu tư thuận lợi, để đạt được lợi nhuận tối đa, ngoài ra còn đặt ra mục tiêu nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế hoặc tạo ra sự ràng buộc nhằm chi phối nền kinh tế nước sở tại.
Cụ thể hơn là mục đích của nhà đầu tư quốc tế được các nhà kinh tế chỉ ra, đó là những động cơ muốn khai thác tối đa mọi nguồn lực của nước nhận đầu tư, kết hợp lợi thế của mình, cùng với các yếu tố thương mại, phi thương mại…để mang về lợi ích cao nhất. Những yếu tố th c đẩy ý định đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của nhà đầu tư đã có nhiều những công trình nghiên cứu kinh tế đưa ra những kết quả lý giải dựa trên nền tảng lý thuyết chung về FDI, đến nay có rất nhiều học giả dựa vào các quan điểm như Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước; Chu kỳ sản phẩm; Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia; Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại; Khai thác chuyên gia và công nghệ; Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên…để khai triển nghiên cứu thực nghiệm và thu về các kết quả đáng tin cậy tại một địa phương của một quốc gia đã/đang dòng vốn FDI có quy mô lớn và đang tăng trưởng khá ổn định. Trước tiên khi bàn về trường phái nghiên cứu dựa vào lý thuyết Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước, có một số học giả điển hình tiếp cận theo định hướng quan điểm này là Anne Sibert và Jiming Ha (1997) 11 [7], Elhanan Helpman (2006) [31], Richard S. Eckaus (2006) [56] cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước, tức là các tác giả đề cập tới sản lượng tăng thêm, lợi nhuận hoặc lợi nhuận mang lại trên mỗi đơn vị từ lợi thế từ đầu vào sản xuất (đầu vào có thể bao gồm những yếu tố như lao động và nguyên liệu), quy luật hiệu suất giảm dần khi đạt được lợi thế trong một yếu tố sản xuất.
Tức là năng suất cận biên thường sẽ giảm khi sản xuất tăng, điều này có nghĩa là lợi thế chi phí thường bị giảm dần cho mỗi đơn vị sản lượng bổ sung được sản xuất ra,nó cũng có thể liên quan đến ngưỡng lợi ích bị ᴠượt quá. Từ đó, các học giả đều có kết luận khá tương đồng, đó là một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn.
Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp. Với nền tảng lý thuyết về chu kỳ sản phẩm, có một tác giả tiêu biểu như Akamatsu Kaname (1962) đã nghiên cứu đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế, thì chu kỳ sống của các sản phẩm bao gồm 03 giai đoạn chủ yếu đó là (i) giai đoạn sản phẩm mới, (ii) giai đoạn sản phẩm chín muồi, (iii) giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Ông cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ 12 thụât của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi).
Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành dòng chảy FDI. Đối với cách tiếp cận theo quan điểm giải thích dòng chảy FDI là do nhà đầu tư muốn tìm kiếm tài nguyên (tự nhiên), có các nhà nghiên cứu theo hướng này như Wood Adrian (1995) [72], Wei Shang-Jing (1996) [71] và WTO (1995) [73] khi công bố công trình nghiên cứu đều cho rằng bản chất và mục đích của động cơ của nhà đầu tư FDI chính là tiếp cận và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước nhận đầu tư. Cũng khá tương đồng với quan điểm cho rằng để có nguồn nguyên liệu thô, các Công ty đa quốc gia đã tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong ph , như nghiên cứu của Phan Hữu Thắng (2007), đã hệ thống lại về tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đã chỉ ra những cơ hội và thách thức trong những năm tiếp theo.
Tác giả chỉ ra xu thế dòng vốn đầu tư sẽ đổ vào các nước đang phát triển, có khả năng các nhà đầu tư lớn đang điều chỉnh chiến lược dài hạn từ Trung Quốc sang ASEAN, trong đó tác giả cũng cho rằng do giá nhiều loại nguyên liệu thô tăng, nên nhà đầu tư lựa chọn những quốc gia có sẵn nguyên liệu như Việt Nam [60]. Một công trình nghiên cứu FDI ở Châu Phi, đó là Sandrina Berthault Moreira (2008) [58], “The Determinants Of Foreign Direct Investment What is the evidence for Africa”. Mục đích chính của bài viết là cung cấp một phân tích tổng thể tập trung vào Châu Phi và xem xét các yếu tố khác nhau dòng vốn hoặc ngăn cản FDI vào Châu Phi, để tìm câu trả lời cho câu h i là các yếu tố quyết định/trở ngại của FDI vào Châu Phi. Để đạt được mục đích đó, tác giả đã tiếp cận các bài viết được xuất bản trên tất cả các tạp chí kinh tế được 13 tìm thấy trong cơ sở dữ liệu giai đoạn (1969 – 2007).
Cuối cùng Sandrin B.M đã r t ra hai nhận định quan trọng. Thứ nhất, nhận thức chung của nhiều nhà quan sát là FDI vào các nước châu Phi phần lớn được th c đẩy bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ hoặc nhắm vào thị trường địa phương. Như tác giả đã trình bày đây không phải là những yếu tố quyết định duy nhất của FDI vào khu vực này. Mặc dù các quốc gia châu Phi có khả năng dòng vốn nhiều vốn FDI, nhất là những quốc gia có tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản cũng như thị trường nội địa rộng lớn, nhưng còn nhiều yếu tố khác chưa được xem xét có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào châu Phi.
Thứ hai, những yếu tố được thảo luận thực sự là trở ngại FDI vào châu Phi và do đó là lý do tại sao châu Phi không thành công trong việc dòng vốn FDI. Tuy nhiên, nhận thức về những hạn chế này cho phép các cơ quan chính phủ thiết lập các chiến lược cụ thể để cải thiện FDI kém của châu Phi. Tiếp theo là với định hướng sử dụng lý thuyết về lợi thế đặc biệt của các Công ty đa quốc gia liên quan đến FDI, Rugman Alan M. (1988) [57] trong nghiên cứu “Các lợi thế cụ thể của các Công ty đa quốc gia tại Canada” đã đưa ra quan điểm rằng những lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia (MNE) có tiềm lực lớn, cho phép họ vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài, nên doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Bài viết tập trung vào một nhóm các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE) có trụ sở tại một nền kinh tế mở và có quy mô nh , đó là Canada. Các MNE công nghiệp lớn của Canada được thu thập dữ liệu phân tích và từ nghiên cứu này, các lợi thế đặc biệt của của mỗi MNE được xác định. phát hiện ra rằng phần lớn các MNE của Canada việc sản xuất, phân phối và kinh doanh sản phẩm dựa trên lợi thế của họ. Ngoài ra còn có Knickerbocker (1973) [44] tiếp tục mở rộng lý thuyết về lợi thế sở hữu bằng nghiên cứu thực 14 nghiệm bộ dữ liệu khảo sát hành vi của 187 Công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ đầu tư ở nước ngoài trong giai đoạn (1948 – 1967), ông đã đi đến kết luận rằng các công ty đa quốc gia này rất năng động ở thị trường không hoàn hảo và họ thường sử dụng chiến lược “theo sau người dẫn đầu”, tức là khi sự thành công của một công ty tham gia vào thị trường nước ngoài, thì các công ty khác cùng ngành sẽ theo sau.
Ngoài ra, có những công trình tiếp cận theo quan điểm tránh xung đột thương mại song phương và tiếp cận thị trường cũng là yếu tố th c đẩy các quốc gia đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như các nhà nghiên cứu như Kokko, A và M. Blomstrom (1995) [45], trong công trình “Chính sách khuyến khích dòng công nghệ thông qua các công ty đa quốc gia nước ngoài”, các ông đã cùng đưa ra quan điểm rằng các nước tiếp nhận đầu tư muốn tận dụng công nghệ mới thông qua các Công ty đa quốc gia. Bài báo này xem xét một số yếu tố có thể quyết định đến việc nhập khẩu công nghệ của các Công ty liên kết nước ngoài do Hoa Kỳ sở hữu đa số tại 33 quốc gia được khảo sát. Kết quả cho thấy nhập khẩu công nghệ của các công ty liên kết tăng lên cùng với mức đầu tư trong nước và trình độ học vấn của nước sở tại.
Điều này cho thấy rằng các chính sách th c đẩy đầu tư, cạnh tranh và giáo dục địa phương đôi khi có thể là những lựa chọn thay thế hoặc bổ sung cho các quy định chính thức về chuyển giao công nghệ.