phần mở đầu, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng biểu và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực Chƣơng 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Vietinbank Đắk Lắk Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Vietinbank Đắk Lắk 6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Qua một thời gian tìm hiểu tài liệu nghiên cứu, tôi đã tham khảo một số nghiên cứu trƣớc đây có liên quan đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nhƣ: luận văn thạc sỹ kinh tế các khóa trƣớc, tài liệu của các chuyên gia … Chẳng hạn nhƣ: Để thực hiện, đề tài vận dụng các phƣơng pháp tiếp cận thực tế, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, các hoạt động thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng cùng với các kiến thức đƣợc trang bị. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo một số tài liệu và công trình nghiên cứu đƣợc công bố nhƣ sau: Đoàn Gia Dũng, Nguyễn Quốc Tuấn, Đào Hữu Hòa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên (2006) “Quản trị nguồn nhân lực”, Nxb Thống kê. Tài liệu này đã làm rõ các khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực, đến quản trị nguồn nhân lực; nội dung của quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp và các xu hƣớng thay đổi trong công tác quản trị nguồn nhân lực hiện đại.
Đặc biệt, tài liệu đã cung cấp các kiến thức 5 cơ bản liên quan đến khái niệm, nội dung, quy trình đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, là cở sở để hình thành khung lý thuyết cho luận văn này. Đào Hữu Hòa (2013) “Vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trình độ cao đẳng, đại học trên địa bàn khu vực miền Trung – Tây Nguyên”. Tạp chí Khoa học & Công nghệ số 6(67). Nghiên cứu cho thấy, khu vực miền Trung – Tây Nguyên hiện có tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung và lao động có trình độ đại học, cao đẳng còn rất thấp, chƣa đáp ứng dƣợc nhu cầu của xã hội.
Việc xác định cơ cấu ngành nghề và cấp đào tạo chƣa hợp lý, nhiều lao động có trình độ đào tạo cao nhƣng không đƣợc sử dụng đúng với chuyên môn và trình độ đào tạo, gây lãng phí lớn cho xã hội Võ Xuân Tiến “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”. Tạp chí khoa học và công nghệ, đại học đà nẵng - số 5(40). Nghiên cứu cho thấy nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của một tổ chức, nó quyết định sự thành bại của chính tổ chức đó trong tƣơng lai và nghiên cứu đã đề cập đến một số biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trần Quốc Tuấn “Đào tạo nguồn nhân lực Ngân hàng cho hội nhập nhìn từ cơ sở”.vn/285/17462/Dao-tao-nguon-nhan-luc-ngan- hang-cho-hoi-nhap-nhin-tu-co-so.
Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực (NNL) cho xã hội nói chung và ngành ngân hàng (NH) nói riêng. Trong phạm vi bài viết, tác giả đứng dƣới góc độ của một nhà quản lý trong lĩnh vực NH để đánh giá sự tụt hậu về chất lƣợng nhân lực ngành NH hiện nay so với khu vực và thế giới, chỉ ra những nguyên nhân về sự tụt hậu đó. Đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong xu thế hội nhập kinh tế. Trần Kim Dung (2009) “Quản trị nguồn nhân lực”.
NXB tổng hợp TP. Tài liệu đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực 6 có hiệu quả là vấn đề khó khăn và thử thách lớn nhất đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế chuyển đổi. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn để lý luận, kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới và thực trạng quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam. Để luận văn này lấy đó làm cơ sở mở rộng và nhìn nhận khác quan về công tác đào tạo nguồn nhân lực cũng nhƣ duy trì phát triển nguồn nhân lực Nguyễn Hữu Thân (2001)“Quản trị nhân sự”, NXB Thống kê, Hà Nội,Tài liệu này tổng hợp, chọn lọc kinh nghiệm từ các trƣờng phái quản trị của Thụy Sỹ, Mỹ, Nhật, Canada, Pháp, Úc cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Việt Nam của chúng ta cần phải xây dựng triết lý quản trị nhân sự phù hợp với văn hóa Việt nam, phối hợp với cái hay cái tốt của nƣớc ngoài.Thông qua tài liệu này tác giả đã có những hiểu biết nhận định về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đánh giá thành tích để có hệ đƣa vào hệ thống lý luận của luận văn. Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (1995) “Giáo trình quản trị nhân lực” NXB Lao động – Xã hội, giáo trình đã đề cập đến hệ thống lý luận đào tạo nguồn nhân lực theo các yếu tố cơ bản, đó là xác định nhu cầu đào tạo; lựa chọn phƣơng pháp đào tạo; đánh giá hiệu quả đào tạo. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực a. Khái niệm nguồn nhân lực Khái niệm Nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi cơ bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” nhƣ: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.
Theo góc độ doanh nghiệp thì “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp đƣợc hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con ngƣời. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trƣờng xung quanh”.[1, trang 56] 8 Từ những khái niệm đã nêu ở trên nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời bao gồm: Thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập đƣợc thực hiện một cách có tổ chức trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp của ngƣời lao động.
Hành vi nghề nghiệp ở đây có thể là cách thức lao động, thái độ lao động, đạo đức lao động. Xét về nội dung công tác đào tạo nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động sau đây: - Đào tạo: Là hoạt động nhằm giúp cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho ngƣời lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. [2, Tr 161] - Phát triển: Là hoạt động nhằm trang bị cho con ngƣời những năng lực nền tảng giúp họ có thể làm chủ quá trình phát triển tri thức, phát triển nghề nghiệp của bản thân theo một hƣớng nhất định trong tƣơng lai.
Hoạt động đào tạo sẽ trang bị những kiến thức thông qua đào tạo mới áp dụng đối với những ngƣời chƣa có nghề, đào tạo lại áp dụng đối với những ngƣời đã có nghề nhƣng vì lý do nào đó nghề của họ không phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề. Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lƣợng của sức lao động, nó có liên quan chặt chẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động, cho phép ngƣời lao động hoàn thành đƣợc những công việc phức tạp. Hoạt động đào tạo sẽ hƣớng vào cá nhân cụ thể và cần tiến hành ngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi. Vai trò và ý nghĩa của công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp a.
Vai trò của công tác đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu chung của đào tạo nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho ngƣời lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng nhƣ nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tƣơng lai. Đào tạo NNL giúp thu hút nguồn nhân lực tiềm năng: Với các trƣơng trình đào tạo ngắn hạn, trung hạn, dài hạn và các khóa kỹ năng kèm theo từng thời gian nhất định thì thông qua các quá trình đào tạo thì đơn vị sẽ thu hút đƣợc nguồn nhân lực tiềm năng. Đào tạo NNL giúp bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực: Thông qua công tác đào tạo NNL các tổ chức có thể phân công thuyên chuyển nhân sự, kiêm nhiệm nhân sự trong các trƣờng hợp cần thiết để bù đắp thiếu hụt về nhân sự, ngoài ra khi đào tạo các ban lãnh đạo của cơ quan có thể phát hiện ra những nhân sự có thiên hƣớng phát triển trong lĩnh vực nào đó để sắp xếp công việc hợp lý.