Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ ĐOÀN CẤP XÃ 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ ĐOÀN CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đào tạo Trong bất kỳ tổ chức nào, muốn nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động thì phải quan tâm, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân sự, vì suy cho cùng, con người là cái gốc của mọi hoạt động.
Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học chủ biên, định nghĩa đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [26, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, một cách hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người” [18, tr.735] Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”. Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục và đào tạo như: trường đại học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc cơ sở sản xuất.với nội dung, chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc 10 đào tạo khác nhau. Sau khi hoàn thành đầy đủ nội dung, chương trình đào tạo theo quy định, cuối mỗi khóa học, người học sẽ được cấp bằng tốt nghiệp.
Từ các cách tiếp cận trên có thể hiểu: “Đào tạo là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, được thực hiện theo những quy trình, yêu cầu nhất định nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể đảm nhận một công việc nhất định”. Khái niệm bồi dưỡng Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Theo UNESCO định nghĩa bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp.
Theo quy định tại Điều 5, Nghị định 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/03/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức, thì “bồi dưỡng” được hiểu “là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Bồi dưỡng thực chất là bổ sung, “bồi đắp” những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động. Người tham gia các khóa bồi dưỡng thường được xác nhận bằng chứng chỉ. Như vậy có thể hiểu, “Bồi dưỡng là hoạt động nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để mỗi cá nhân củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm”.
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Từ khái niệm về “đào tạo” và “bồi dưỡng” ở trên ta thấy, về tổng quát 11 thì khái niệm “đào tạo” bao hàm cả ý nghĩa “bồi dưỡng”, vì vậy cụm từ “đào tạo, bồi dưỡng” (ĐTBD) thường được sử dụng trong thực tế. Về thời gian, đào tạo thường có thời gian dài hơn, khoảng từ một năm trở lên. Về bằng cấp, sau khi hoàn thành khóa đào tạo, đảm bảo đầy đủ nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo, người học được cấp bằng chứng nhận trình độ được đào tạo. Bồi dưỡng có những đặc điểm cơ bản khác với đào tạo: bồi dưỡng chủ yếu là bổ sung, cập nhật kiến thức, thông tin vào những tri thức mà cán bộ đã có; nội dung bồi dưỡng chủ yếu hướng vào những quan điểm, chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, cập nhật những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng; hình thức bồi dưỡng đa dạng, linh hoạt: có bồi dưỡng nâng cao, cập nhật, chuyên sâu theo chức danh; có bồi dưỡng nhiều lần, hằng năm và khi hoàn thành được cấp chứng nhận; thời gian bồi dưỡng cán bộ khoảng một vài tuần đến một vài tháng.
Như vậy, đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm khác nhau, nhưng cùng mục đích đó là làm cho cán bộ có phẩm chất, năng lực công tác tốt. Tóm lại, “Đào tạo, bồi dưỡng là quá trình nhằm trang bị những phẩm chất, kiến thức, kỹ năng cần thiết để mỗi cá nhân thực hiện tốt nhất chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao”. Khái niệm cán bộ Đoàn Cán bộ đoàn là cán bộ của Đảng; được Đảng, Nhà nước giao cho nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp thanh niên, thông qua tổ chức Đoàn, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam để giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng họ; tổ chức các phong trào hành động cách mạng của thanh niên tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Cán bộ Đoàn là thủ lĩnh thanh niên, đi đầu trong công tác tập hợp, vận động thanh thiếu niên, đồng thời là người hiến kế tổ chức thực hiện các phong trào, các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chương trình, kế hoạch của tổ chức Đoàn; họ là cầu nối giữa 12 thanh niên với cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân.
Theo Điều 1, Quy chế cán bộ Đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 289-QĐ/TW, ngày 08/02/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng [1] , cán bộ Đoàn gồm: Những người giữ chức danh bí thư chi đoàn, phó bí thư, bí thư đoàn cấp cơ sở trở lên; Những người làm việc trong các cơ quan chuyên trách của Đoàn và trực tiếp làm công tác Đoàn, Hội, Đội, phong trào thanh thiếu nhi từ cấp huyện và tương đương trở lên; Trợ lý thanh niên, cán bộ ban thanh niên trong Quân đội nhân dân; uỷ viên ban công tác thanh niên các cấp trong Công an nhân dân. Tóm lại, cán bộ Đoàn bao gồm những người được đại hội, hội nghị đại biểu; đại hội, hội nghị đoàn viên; Ban chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp bầu cử hoặc được cấp bộ Đoàn có thẩm quyền chỉ định giữ các chức danh trong hệ thống tổ chức của Đoàn và những công chức không giữ các chức danh trong tổ chức Đoàn nhưng công tác tại cơ quan chuyên trách của Đoàn từ cấp huyện trở lên và trực tiếp làm công Đoàn, Hội, Đội. Khái niệm cán bộ Đoàn cấp xã Điều 6, Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quy định: “Hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp: Cấp Trung ương, cấp tỉnh và tương đương, cấp huyện và tương đương, cấp cơ sở (gồm Đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở)”. Điều 17, Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quy định: “Tổ chức cơ sở Đoàn gồm: Đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở, là nền tảng của Đoàn, được thành lập theo địa bàn dân cư, theo ngành nghề, theo đơn vị học tập, công tác, lao động, nơi cư trú và đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang nhân dân”.
Đoàn xã, phường, thị trấn là Đoàn cơ sở và được gọi chung là Đoàn cấp xã. Theo Quy chế cán bộ Đoàn thì cán bộ Đoàn cấp xã là những người giữ chức danh Bí thư, Phó Bí thư Đoàn xã, phường, thị trấn. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn cấp xã Cán bộ Đoàn, trong đó có cán bộ Đoàn cấp xã là cán bộ của Đảng, được Đảng giao trách nhiệm làm công tác thanh niên, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ phải thực sự trở thành thủ lĩnh của thanh niên. Ngoài tố chất, sự nhiệt tình, người cán bộ Đoàn cấp xã phải có trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ cơ bản về công tác Đoàn thanh niên.
Điều này có thể có được thông qua nhiều kênh: tự học tập, rèn luyện, tích lũy kiến thức, đúc rút kinh nghiệm hoạt động thực tiễn… Trong đó, thông qua đào tạo, bồi dưỡng bài bản là một trong những phương pháp tiết kiệm thời gian và đem lại hiệu quả cao. Đối với cán bộ Đoàn cấp xã, việc đào tạo, bồi dưỡng được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, năng lực công tác, cũng như chất lượng và hiệu quả làm việc, tạo được sự thay đổi về chất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức Đoàn cũng như phong trào thanh thiếu nhi ở cơ sở. Từ các khái niệm nêu trên có thể quan niệm: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn cấp xã là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng cơ bản và cập nhật, bổ sung những kiến thức mới về lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi cho những cán bộ Đoàn cấp xã nhằm nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, năng lực tham mưu, quản lý điều hành, khả năng thanh vận và tổ chức phong trào hành động cách mạng cho thanh thiếu nhi, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp xã chuyên nghiệp, có phẩm chất và năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi ở cơ sở”. Đặc điểm, vai trò, phân loại và yêu cầu của cán bộ Đoàn cấp xã 1.
Đặc điểm của cán bộ Đoàn cấp xã Cán bộ đoàn cấp xã là người thủ lĩnh của mọi phong trào ở cơ sở, tham mưu với cấp ủy, đề xuất với chính quyền, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các ngành, đoàn thể để tạo nên sức mạnh đồng bộ, tổng hợp nhằm thực hiện nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh thiếu nhi, chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ. Cán bộ đoàn cấp xã còn là nguồn cán bộ trẻ bổ sung cho hệ thống chính trị ở cơ sở. Việc xác định đặc điểm của cán bộ Đoàn cấp xã sẽ giúp công tác đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, đáp ứng được nhu cầu và khả năng tham gia của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp xã. Căn cứ mục tiêu nghiên cứu, trong phạm vi đề tài chỉ nêu những đặc điểm có tính chất nổi bật, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn cấp xã.