lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn bao gồm 3 chương chính, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. - 11 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức theo pháp luật Việt Nam 1. Khái niệm về công chức, viên chức 1.
Khái niệm về công chức Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, “viên chức” được sử dụng đồng thời, với những nội dung vừa có điểm trùng nhau, vừa có điểm khác nhau. Đối với khái niệm công chức, ngay sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam. Tại Điều 1 của Sắc lệnh nêu khái niệm công chức là: Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định [10]. Tuy nhiên do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản quy chế công chức này không được triển khai đầy đủ, và suốt một thời gian dài (đến cuối những năm 1980), khái niệm công chức không được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước.
Khái niệm này dùng chung cho tất cả mọi người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt, theo đó đội ngũ này rất đông đảo vì nó được hình thành từ rất nhiều con đường, có thể do bầu, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng, bổ nhiệm… Phạm vi làm việc của họ cũng rất rộng, vì vậy đội ngũ cán bộ công nhân viên chức không ổn - 12 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thực tế trên đã gây khó khăn, thiếu thống nhất cho công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Nghị định chỉ rõ: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước [19].
Khái niệm công chức này cũng giống như khái niệm công chức theo sắc lệnh 76/SL. Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Đổi mới căn bản công tác cán bộ phù hợp với cơ chế mới. Phân định rõ cán bộ hoạt động theo nhiệm kỳ và cán bộ công chức chuyên nghiệp”. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, Pháp lệnh Cán bộ, công chức bắt đầu được triển khai xây dựng và đến 9/3/1998 đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Để cụ thể hoá Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Theo Nghị định này: Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng [7]. Pháp lệnh cán bộ, công chức ra đời là văn bản pháp lý cao nhất của nước ta về công chức, đánh dấu bước chuyển biến cơ bản về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước. Sau 2 năm thực hiện, Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, nên đã được sửa đổi vào năm 2000. Tuy vậy, ngay cả Pháp lệnh sửa đổi vẫn không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm - 13 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức.
Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Pháp lệnh được sửa đổi một lần nữa vào năm 2003. Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay đã chưa làm rõ được các khái niệm về cán bộ, công chức.
Ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật Cán bộ, công chức (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010). Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 - Khoản 2 của Luật quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [21]. - 14 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu căn cứ vào nơi làm việc, công chức ở nước ta hiện nay bao gồm: Công chức nhà nước (làm việc trong bộ máy nhà nước); công chức trong bộ máy của Đảng; công chức trong tổ chức chính trị - xã hội; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công.
Công chức nói chung, có các đặc điểm sau đây: - Là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; - Được tuyển dụng, bổ nhiệm, được giao giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; giao giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập; - Công việc của công chức có tính chất thường xuyên, liên tục, tương đối ổn định, không bị giới hạn bởi nhiệm kỳ; để thực hiện được công việc của mình, họ phải có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định; - Được xếp vào một ngạch công chức nhất định, mỗi ngạch có tiêu chuẩn riêng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng để thực hiện chức trách của mình. Công chức được phân loại theo ngạch được bổ nhiệm thì có: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; + Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; + Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; + Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; - 15 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Có thể quan niệm: Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, ở trong nước hoặc ngoài nước), đơn vị sự nghiệp công, được xếp vào một ngạch công chức, có tính chuyên nghiệp, mỗi ngạch có chức danh, tiêu chuẩn riêng, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Khái niệm về viên chức Trước khi có Luật viên chức năm 2010, các quy định về quyền, nghĩa vụ và các nội dung quản lý viên chức được quy định trong Pháp lệnh cán bộ , công chức. Tuy nhiên, các quy định này so với yêu cầu của thời kỳ hội nhập kinh tế vẫn còn nhiều bấ t câ ̣p. Hoạt động của cán bộ , công chức, viên chức đều nhằm mục tiêu chung là phục vụ nhân dân. Tính chất, đặc điểm lao động của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập chưa đươ ̣c phân biê ̣t rõ ràng với cán bô ̣ , công chức trong các cơ quan hành chiń h nhà nước.
Do đó , trong thực tế , hoạt đô ̣ng nghề nghiê ̣p của viên chức nhằ m thực hiê ̣n chức năng phu ̣c vu ̣ xã hô ̣i trên các lĩnh vực chưa được các cơ quan , tổ chức quan tâm đầ y đủ .