CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Đánh giá hoạt động xuất khẩu là một trong những bước quan trọng của việc xây dựng và triển khai chính sách, tạo môi trường thuận lợi nhằm kích thích các hoạt động xuất khẩu. Nó cung cấp những thông tin quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nắm bắt được những lợi thế so sánh của từng ngành, từng lĩnh vực xuất khẩu.
Trong thời gian qua, việc đánh giá hoạt động xuất khẩu đã được các nhà nghiên cứu và các tổ chức trên thế giới đặc biệt quan tâm. Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO (ITC), các tổ chức quốc tế, và các chuyên gia trên thế giới đã có những nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá hoạt động xuất khẩu như: Export opportunities of Thailand(Cuyvers, 1997); Indentifying export opportunities (Cuyvers, 2004); Export potential assessment: Indentifying prority sectors for export promotion (Freudenbeng, 2006); Export Potential Assessment in Lao PDR (Freudenbeng, 2006); Export Potential Assessment in Nepal (Freudenbeng, 2007); Market Analysis and Research Section (Thierry Paulmier, 2008); The export potential of Ukraine: the methodology of assessment and analysis (Tetyana Melnyk, 2008),… Các nghiên cứu trên đã đề cập đến lý luận chung liên quan đến xuất khẩu và đánh giá hoạt động xuất khẩu, qua đó xem xét tiềm năng cho tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai của các ngành sản xuất tại các quốc gia để xác định các lĩnh vực then chốt mà các chính phủ cần can thiệp và có những chính sách liên quan để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai. 6 Trong nghiên cứu về “Cơ cấu xuất khẩu của các nước Nam Á theo quan điểm so sánh” của Jorg Mayer và Adrian Wood (2001) dựa trên lý thuyết H- O, các tác giả đã đánh giá điều kiện các nguồn lực sản xuất của các nước Nam Á và cho thấy, so với các nước Đông Á, các nước Nam Á có diện tích bình quân đầu người và trình độ giáo dục thấp. Điều này phù hợp với cơ cấu xuất khẩu của các nước này chủ yếu là các sản phẩm sử dụng nhiều lao động giản đơn.
Do đó, để có thể chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hướng đến các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, các tác giả khuyến nghị các nước Nam Á cần có chính sách giáo dục để nâng cao trình độ giáo dục cao hơn tốc độ trung bình của thế giới. Nghiên cứu “Các yếu tố quyết định đến cơ cấu xuất khẩu của các nước Trung và Đông Âu” của Bernard Hoekman và Simeon Djankov (1970) đã phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, gia công xuất khẩu (outward processing) và nhập khẩu đầu vào đến xuất khẩu của các nước Trung và Đông Âu sang thị trường EU (thể hiện qua chỉ số RCA). Qua phân tích, kết quả của nghiên cứu cho thấy nhập khẩu nguyên liệu là yếu tố có tác động mạnh nhất đến cơ cấu xuất khẩu. Ngoài ra, nhiều tổ chức quốc tế như IMF, WB,… cũng thường xuyên có những đánh giá, dự báo về kinh tế Việt Nam nói chung và xuất khẩu của nước ta nói riêng.
Tuy nhiên, các đánh giá này thường là ngắn hạn, thường thay đổi và chỉ mang giá trị tham khảo. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề này được thực hiện trong khuôn khổ các dự án do các tổ chức nước ngoài tài trợ. Trong đó phải kể đến Báo cáo đánh giá hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 trong khuôn khổ của Đề tài VIE 61/94 mang tên “Hỗ trợ xúc 7 tiến thương mại và Phát triển xuất khẩu tại Việt Nam” do Chính phủ Thụy Sỹ tài trợ (2004-2010), cơ quan quản lý chương trình là Bộ Công thương, Cục Xúc tiến thương mại (XTTM) là đơn vị chủ trì thực hiện theo phương thức Quốc gia điều hành (NEX). Báo cáo này đánh giá hoạt động xuất khẩu của khoảng 40 ngành hàng tại Việt Nam, bao gồm các sản phẩm tiền khoáng sản và nhiên liệu, thủy sản, nông sản, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Báo cáo bao gồm nội dung phân tích chuyên sâu về nhiều ngành hàng riêng biệt, trong đó có đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (phân tích SWOT); xác định những lĩnh vực chính cần có sự can thiệp và những chính sách liên quan đến xúc tiến phát triển xuất khẩu trong tương lai. Báo cáo cũng xác định những thị trường mục tiêu có khả năng thâm nhập nhằm đa dạng hóa thị trường cho từng ngành hàng. Bên cạnh đó tiềm năng, lợi thế và cả hạn chế của các mặt hàng xuất khẩu tại Việt Nam cũng đã được phác họa tương đối đầy đủ trong Báo cáo nghiên cứu đánh giá hoạt động xuất khẩu cấp quốc gia và vùng (Bắc, Trung và Nam). Đây là báo cáo nằm trong chương trình “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam thông qua hệ thống xúc tiến thương mại địa phương” được xây dựng trên cơ sở kết quả tiếp nối của Đề tài VIE 61/94 “Hỗ trợ XTTM và Phát triển Xuất khẩu tại Việt Nam”.
Báo cáo tập trung vào đánh giá hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ở 5 lĩnh vực là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thủ công mỹ nghệ và thủy sản. Qua đó, xác định các ngành hàng, dịch vụ có tiềm năng xuất khẩu trong tương lai, tái khẳng định những ngành hàng đã có thành tích xuất khẩu tốt. Báo cáo đánh giá còn phát hiện những mặt hàng chưa có thống kê xuất khẩu hoặc đã xuất khẩu với số lượng hạn chế, nhưng có tiềm năng và điều kiện cần thiết để có thể xúc tiến xuất khẩu trong thời gian tới. 8 Đánh giá hoạt động xuất khẩu của ngành hàng công nghiệp, ngành hàng điện tử và dệt may của Việt Nam và thành phố Hà Nội đã được đề cập đến trong nhiều đề tài nghiên cứu như: nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Ánh (2008) về “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử của Việt Nam”; Đỗ Thị Loan nghiên cứu về “Đẩy mạnh việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam”.
Nghiên cứu về các hoạt động xuất khẩu của Việt Nam còn được đề cập đến trong một số tài liệu của Nguyễn Hữu Khải (2007) về “Đánh giá thực trạng và định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam thời kỳ 2005-2015”; Nguyễn Tiến Hùng (2008) về “Phát triển thị trường xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”; Nguyễn Tiến Hùng (2011) về “Vai trò của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hay thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, đồng thời có đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hay thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam giai đoạn trước và sau khi hội nhập để đưa ra đề xuất và giải pháp chuyển dịch xuất khẩu của Việt Nam. Riêng đối với thành phố Hà Nội, cũng đã có một số nghiên cứu có liên quan đến xuất khẩu như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Những giải pháp chủ yếu nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Hà Nội” do Vũ Trọng Lâm (2004), Văn phòng Thành ủy chủ trì. Đề tài tiếp cận năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Hà Nội, bao gồm cả cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thế giới, không đi sâu vào hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thủ đô trong tiến trình hội 9 nhập”, do Bùi Ngọc Sơn (2005), Trường Đại học Ngoại thương thực hiện. Đề tài này tiếp cận năng lực xuất khẩu ở cấp vi mô và đưa ra những giải pháp để nâng cao năng lực xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Đề tài chưa có những tổng hợp, phân tích đối với cơ cấu xuất khẩu và mới chỉ đề cập đến các giải pháp vi mô, chưa có những giải pháp tổng thể nhằm thúc đẩy tiềm năng xuất khẩu của Thủ đô. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo “Một số giải pháp vượt rào cản kỹ thuật thương mại trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế: áp dụng cho thành phố Hà Nội” do Nguyễn Hữu Khải (2007), Trường Đại học Ngoại thương thực hiện.
Đề tài đã đưa ra được các giải pháp để tăng kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội, đặc biệt chú ý đến các mặt hàng xuất khẩu chính của Hà Nội. Đề tài cũng đã tiếp cận vấn đề tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua việc vượt qua các rào cản thương mại kỹ thuật, trong đó có một số hàng rào có liên quan đến vấn đề môi trường. Tuy nhiên, đề tài không đề cập đến các giải pháp giúp các doanh nghiệp tăng nội lực nhằm vượt qua các rào cản kỹ thuật thương mại đó. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố “Chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững” do Hồ Vân Nga, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì.
Đề tài đã đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu theo hướng phất triển bền vững của thành phố trong giai đoạn 2000-2009 và đề xuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành hàng xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững của Hà Nội đến năm 2020 tầm nhìn 2030. Đề tài cấp thành phố của Nguyễn Đình Dương (2014) nghiên cứu “Xác định chuỗi giá trị một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn Thành phố Hà Nội: Điện tử và may mặc” qua đó đã xác định mức độ tham gia vào các mắt xích trong chuỗi giá trị sản phẩm điện tử, may mặc trên thế giới của 10 các doanh nghiệp điện tử và may mặc Hà Nội, nhằm đánh giá khả năng xuất khẩu của ngành điện tử và may mặc Hà Nội ra thị trường thế giới. Đề tài đã đưa ra được một số căn cứ khoa học giúp chứng minh được khả năng có thể tham gia vào khâu tạo giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp điện tử và may mặc.