MỞ ĐẦU Tỉnh Hải Dương nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (nằm trong tam giác kinh tế phía Bắc: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông và Đông Nam tiếp giáp thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh. Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi cùng hệ thống giao thông đường bộ, thuỷ, sắt khá hoàn chỉnh, Hải Dương có nhiều lợi thế trong giao lưu, trao đổi thương mại với các đỉnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh) cũng như các tỉnh lân cận. Tính đến cuối năm 2017, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP theo giá 2010) ước tăng 8,9% so với năm 2016, cao hơn bình quân cả nước (ước tăng gần 7,0%); trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản (NLTS) giảm 1,4%; công nghiệp - xây dựng tăng 11,8% (công nghiệp +12,0%, xây dựng +9,6%); dịch vụ tăng 7,9%. Ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, tăng trưởng của ngành này sẽ quyết định tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Năm 2017, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá 2010) ước đạt 164.696 tỷ đồng, bằng 108,2% kế hoạch năm, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước; tăng cao ở một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như: sản xuất kim loại; sản xuất điện tử; sản xuất trang phục, giày dép; trong đó có sự đóng góp chủ yếu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài [5]. Trong đó, Sông Thái Bình có vai trò quan trọng với việc phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Hải Dương như: Cấp nước đầu vào cho nhà máy nước Cẩm Thượng, thành phố Hải Dương với công suất 30.000 m3/ngày đêm và các trạm cấp nước khác nằm trên địa bàn các xã có sông Thái Bình chảy qua như huyện Thanh Hà, huyện Tứ Kỳ, thị xã Chí Linh, huyện Nam Sách, cấp nước sinh hoạt cho khu dân cư, cơ sở sản xuất. Bên cạnh đó sông Thái Bình còn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và là nơi phát triển mạng lưới giao thông thủy. Kết quả quan trắc từ năm 2011 đến 2015 theo mạng lưới quan trắc môi 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường do Trung tâm Quan trắc môi trường Hải Dương đánh giá (04 đợt/năm) cho thấy: Khu vực đầu nguồn hệ thống sông cũng như trong lưu vực sông Thái Bình đã bị ô nhiễm bởi TSS, N-NO2-, N-NH4+; Nồng độ các thông số ô nhiễm diễn biến tăng giảm bất thường, không theo quy luật nhất định phụ thuộc vào nguồn thải[14].
Tuy nhiên, cho đến nay chưa phân định được nguồn thải nào thải trực tiếp gây ô nhiễm nước sông Thái Bình nên các cơ quan quản lý chưa đánh giá được cụ thể nguyên nhân gây ô nhiễm hệ thống sông Thái Bình cũng như đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp. Chính vì các lý do trên đề tài “Đánh giá thực trạng xử lý các nguồn thải chính vào sông Thái Bình qua địa bàn thành phố Hải Dương và đề xuất các giải pháp khắc phục” được thực hiện sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra các giải pháp kiểm soát, ngăn ngừa, ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước trên dòng chính sông Thái Bình. Mục tiêu của đề tài: Đánh giá và đề xuất các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, cải thiện chất lượng nước sông Thái Bình (đoạn chảy qua thành phố Hải Dương) nhằm đạt tiêu chuẩn làm nguồn nước cấp cho sản xuất nước sinh hoạt. Các nội dung nghiên cứu: - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước và nhu cầu sử dụng nước sông Thái Bình của các ngành kinh tế và dân sinh; - Xác định được tên nguồn thải, khối lượng xả thải, vị trí các điểm xả thải, phân loại mức độ ô nhiễm củacác nguồn thải chính và tình hình quản lý, xử lý các nguồn xả thải này ra dòng chính sông Thái Bình; - Xác định được các vùng ô nhiễm, mức độ ô nhiễm, đánh giá chất lượng nước sông theo các tiêu chuẩn hiện hành và theo mục đích sử dụng; - Các giải pháp quản lý nguồn thải và cải thiện tình trạng ô nhiễm nước trên dòng chảy chính sông Thái Bình.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về sông Thái Bình 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình Hệ thống sông Thái Bình nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam và được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam.Ba nhánh này gặp nhau tại Phả Lại tạo thành dòng chính sông Thái Bình chảy ra cửa biến có chiều dài 90 km, sông rộng trung bình 350 ÷ 450m ít dốc bị bồi lắng nhiều.Về hạ lưu sông có nhiều phân lưu thuộc bờ tả như: sông Kinh Thầy, sông Văn Úc và nhận nước từ sông Hồng chuyển sang quasông Đuống và sông Luộc. Hệ thống sông Thái Bình được nối thông với sông Hồng bằng sông Đuống và sông Luộc tạo thành lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình. Lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình được giới hạn từ 20023’ đến 25030’ vĩ độ Bắc và từ 1000 đến 107010’ kinh độ Đông.
+ Phía Bắc giáp lưu vực sông Trường Giang và sông Châu Giang của Trung Quốc. + Phía Tây giáp lưu vực sông Mêkông. + Phía Nam giáp lưu vực sông Mã. + Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ.
Phần lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình trên lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý từ: 20023’ đến 23022’ vĩ độ Bắc và từ 102010’ đến 107010’ kinh độ Đông.2 Các nhánh dòng chính phần thượng nguồn sông Thái Bình - Sông Cầu: Là nhánh lớn nhất của sông Thái Bình, bắt nguồn từ núi Vạn Om - Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn. Chiều dài sông tính đến Phả Lại là 288,5km, diện tích lưu vực 6030km2. Sông Cầu có 2 phụ lưu lớn là sông Công và sông Cà Lồ đều năm phía bờ phải đều xuất phát từ dãy núi Tam Đảo. Sông Công có diện tích lưu vực 950km2, sông Cà Lồ có diện tích lưu vực 891km2 [16].
- Sông Thương: Bắt nguồn từ dãy núi Na Pha Phước - Chi Lăng - Lạng Sơn. Từ thượng nguồn về tới Bố Hạ. Sông Chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Sau đó đổi hướng Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Nam nhập lưu với 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sông Cầu tại Phả Lại.
Sông dài 571 km có diện tích lưu vực 3650km2 [16]. - Sông Lục Nam: Bắt nguồn từ huyện Đình Lập (Lạng Sơn) chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam nhập lưu vào sông Thương tại Phương Nhơn (Lục Nam - Bắc Giang) cách cửa sông Thương 9,5km, diện tích lưu vực 3070 km2. Thượng nguồn sông hẹp dốc uốn khúc độ dốc đáy sông từ Chũ về hạ lưu độ dốc giảm lòng sông mở rộng [16].3 Các phân lưu của hạ du sông Thái Bình - Sông Văn Úc và nhánh của sông Lạch Tray chúng chảy gần như song song với nhau và chảy ra biển tại 3 cửa Thái Bình, Văn Úc và Lạch Tray. Hiện nay dòng chính sông Thái Bình đã bị đứt đoạn tại Quý Cao (đoạn sông nối giữa sông Luộc với sông Văn Úc) làm cho đoạn sông Thái Bình từ Quý Cao đến sông Mía và sông Luộc ra biển đang bị bồi lắng [16].
- Sông Kinh Thầy: xuất phát từ Chí Linh đến biển dài 82km đoạn đầu lòng sông rộng khoảng 200 - 300m chảy uốn khúc quanh co gần cửa sông song mở rộng dần đến 400 - 600m. Sông Kinh Thầy dốc hơn sông Thái Bình độ sâu lòng sông khoảng từ -5 đến -9m [16]. - Sông Kinh Môn: xuất phát từ ngã ba Cầu đến cao kênh (xã Tam Đa) dài 43 km sông rộng trung bình 300m. Độ dốc lòng sông nhỏ, sông chảy quanh co, độ sâu đáy sông khoảng 6 ÷10m [16].
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Bản đồ lưu vực sông Thái Bình Địa hình lưu vực sông Thái Bình là địa hình dạng đồi, với độ cao phổ biến từ 50m đến 150m, chiếm 60% diện tích. Rất ít đỉnh cao vượt quá 1000m. Chỉ có một số đỉnh như Tam Đảo có độ cao 1591m, Phia Đeng cao 1527m. Núi đồi trong hệ thống sông Thái Bình có hướng Tây Bắc - Đông Nam tồn tại song song với những vòng cung mở rộng về phía Bắc.
Dọc theo các sông ở đồng bằng đều có đê chia cắt đồng bằng thành những ô tương đối độc lập. Vùng cửa sông giáp biển có nhiều cồn cát và bãi phù sa.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Diễn biến chất lượng môi trường nước các lưu vực sông Việt Nam hiện có 108 lưu vực (LV) sông, với 3.450 sông, suối, tổng lượng trung bình hàng năm khoảng 830 tỷ m3. Từ năm 2006, Trung tâm Quan trắc Môi trường (QTMT), Tổng cục Môi trường triển khai 7 chương trình QTMT nước các LV sông theo không gian và thời gian, bao gồm: LV sông Nhuệ - sông Đáy (5 đợt); LV sông Cầu (5 đợt); LV sông Đồng Nai- sông Sài Gòn (4 đợt); LV sông Mã - sông Chu (3 đợt); LV sông Hồng- sông Thái Bình (3 đợt); LV sông Vu Gia - sông Thu Bồn (3 đợt) và nước các sông vùng Tây Nam Bộ (3 đợt). Bài viết đề cập chỉ số chất lượng nước (CLN) được tính toán từ kết quả quan trắc các LV sông trong thời gian từ tháng 5-7/2016 [12].
Theo kết quả tính toán giá trị WQI (theo Tổng cục Môi trường,Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 1/7/2011 và Quyết định số 711/QĐ-TCMT ngày 29/5/2015) các LV sông cho thấy, phần lớn chất lượng môi trường nước mặt ở thượng nguồn các LV sông còn khá tốt. Tuy nhiên, đã có vài khu vực đầu nguồn có dấu hiệu ô nhiễm ở một số thời điểm. Ô nhiễm và suy thoái tập trung ở vùng trung lưu và hạ lưu (đặc biệt là các đoạn chảy qua khu vực đô thị, khu công nghiệp, làng nghề), nhiều khu vực ô nhiễm ở mức nghiêm trọng như đoạn các sông chảy qua nội thành trên LV sông Nhuệ - sông Đáy, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai. chỉ có thể sử dụng được cho mục đích giao thông thủy, tưới tiêu và thậm chí có đoạn bị ô nhiễm nặng.
Chất lượng môi trường nước LV sông Cầu còn tương đối tốt, nước sông có thể sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt. Tại thượng nguồn sông Cầu, khu vực chảy qua tỉnh Bắc Cạn, chất lượng môi trường nước sông khá sạch, có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.