Tổng quan nghiên cứu

Đợt hạn mặn lịch sử năm 2016 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho 9.490,89 ha cây trồng nông nghiệp và làm thất thoát hơn 191 tỷ đồng tại tỉnh Long An. Nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Kông và tiếp giáp trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Long An sở hữu diện tích tự nhiên 449.494 ha với vùng trũng Đồng Tháp Mười chiếm tới 66,4% lãnh thổ. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng kết hợp với việc khai thác, tích trữ nước của các hồ chứa thủy điện thượng nguồn đã khiến nguồn nước ngọt sụt giảm mạnh trong mùa khô, đẩy quá trình xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ quy luật lan truyền độ mặn và định lượng mức độ ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông lên mạng lưới sông ngòi của tỉnh. Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: thiết lập bộ công cụ mô hình toán mô phỏng dòng chảy và độ mặn; đánh giá chi tiết hiện trạng xâm nhập mặn trên các trục sông chính; đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình kiểm soát xâm nhập mặn hiệu quả.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ba tuyến sông huyết mạch của tỉnh là sông Vàm Cỏ (dài 35,5 km), sông Vàm Cỏ Đông (dài 128 km trong nội địa) và sông Vàm Cỏ Tây (dài 186 km), sử dụng chuỗi số liệu thủy văn và xâm nhập mặn giai đoạn 2005 - 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu số trị giúp địa phương chủ động điều tiết nguồn nước tưới, giảm thiểu rủi ro cho hơn 1,8 triệu người dân và hỗ trợ hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 12,5% đến 13%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết thủy động lực học dòng chảy một chiều không ổn định trong lòng dẫn hở thông qua hệ phương trình Saint-Venant, bao gồm phương trình liên tục bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng bảo toàn động lượng. Quá trình truyền tải và khuếch tán chất hòa tan trong nước sông được mô tả bằng lý thuyết khuếch tán bình lưu 1 chiều dựa trên định luật Fick bậc nhất và lý thuyết khuếch tán rối ngang của Taylor.

Bộ công cụ tính toán được lựa chọn là phần mềm chuyên dụng MIKE 11 do Viện Thủy lực Đan Mạch phát triển, tích hợp hai phân hệ cốt lõi: phân hệ thủy lực MIKE 11 HD và phân hệ truyền chất MIKE 11 AD. Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu gồm có: ranh mặn 4‰ (ngưỡng giới hạn cho phép đối với hầu hết cây trồng nông nghiệp), ranh mặn 1‰ (ngưỡng nước sinh hoạt), chế độ bán nhật triều không đều qua cửa Soài Rạp với chu kỳ triều 13 - 14 ngày, nêm mặn và hệ số nhám Manning của lòng dẫn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào được thu thập đồng bộ, bao gồm hệ thống mặt cắt ngang chi tiết của hơn 3.893,79 km kênh cấp I và 4.376 km kênh cấp II, cùng cao trình hệ thống bờ bao trên toàn vùng Đồng Tháp Mười được khảo sát chuẩn hóa đến hệ cao độ quốc gia. Dữ liệu khí tượng thủy văn bao gồm lưu lượng biên thượng nguồn sông Tiền, dao động mực nước triều và nồng độ mặn tại các trạm Tân An, Bến Lức, Cầu Nổi, Mỹ Tho và Mỹ Thuận.

Phương pháp sai phân hữu hạn sử dụng sơ đồ 6 điểm ẩn Abbott-Ionescu để giải hệ phương trình vi phân trên lưới không gian và thời gian. Điều kiện ổn định số được kiểm soát chặt chẽ với số Courant dao động trong khoảng 10 đến 20. Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình được tiến hành qua hai bước độc lập: hiệu chỉnh với chuỗi số liệu mùa kiệt năm 2005 và kiểm định với số liệu hạn mặn lịch sử năm 2016.

Độ chính xác của mô hình được đánh giá thông qua chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NSE). Giá trị NSE lớn hơn 0,85 được đánh giá ở mức tốt, từ 0,65 đến 0,85 đạt mức khá. Phương pháp mô hình hóa 1D được lựa chọn nhờ khả năng mô phỏng vượt trội mạng lưới sông kênh vòng phức tạp vùng châu thổ, tối ưu hóa thời gian tính toán khi lưu lượng mùa kiệt sông Vàm Cỏ Tây xuống mức cực thấp khoảng 9 m3/s.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả mô phỏng số trị đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về diễn biến xâm nhập mặn trên hệ thống sông tỉnh Long An:

  • Ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu kỷ lục vào nội địa trong mùa khô năm 2016, vượt qua trạm Tân An trên sông Vàm Cỏ Tây và trạm Bến Lức trên sông Vàm Cỏ Đông, lan truyền sâu hơn 100 km tính từ cửa biển Soài Rạp.
  • Thời gian xuất hiện độ mặn cao đến sớm hơn quy luật nhiều năm từ 15 đến 30 ngày; ngay từ giữa tháng 12/2015, nồng độ mặn 1 g/l đã xuất hiện tại cống Bến Trễ (sông Vàm Cỏ, huyện Cần Đước) và gia tăng nhanh chóng trong tháng 1/2016.
  • Độ mặn phân hóa rõ rệt theo chu kỳ bán nhật triều 13 - 14 ngày và tương tác không gian; ở cùng khoảng cách ra biển, độ mặn trên sông Vàm Cỏ luôn cao gấp 2 đến 3 lần so với sông Tiền do sông Vàm Cỏ không có nguồn sinh thủy độc lập trong mùa cạn.
  • Mô hình số trị đạt độ tin cậy vượt trội: Hệ số Nash-Sutcliffe đánh giá mực nước và nồng độ mặn tại các trạm kiểm định Tân An và Bến Lức đều đạt giá trị trên 0,85, phản ánh sự tương thích chặt chẽ giữa đường quá trình tính toán và dữ liệu thực đo.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mặn xâm nhập sâu là do lưu lượng nước ngọt bổ cập từ thượng nguồn sông Tiền qua kênh trục Đồng Tháp Mười bị suy giảm mạnh trong mùa khô, chỉ đạt bình quân 9 m3/s tại Tân An so với lưu lượng lũ trên 5.000 m3/s. Đồng thời, hoạt động mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc (gió chướng) xuất hiện với tần suất 60 - 70% trong các tháng 2 và 3 đã đẩy đỉnh triều dâng cao, gia tăng nêm mặn truyền sâu vào hệ thống kênh nhánh.

Dữ liệu mô phỏng được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh đường quá trình độ mặn theo thời gian giai đoạn 2005 - 2018 tại các trạm Cầu Nổi, Bến Lức, Xuân Khánh, Tân An, Tuyên Nhơn và hệ thống bản đồ số GIS phân bố đẳng trị độ mặn lớn nhất toàn tỉnh. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây tại lưu vực Mê Kông, kết quả luận văn đã cập nhật chính xác ảnh hưởng của hệ thống 352 tuyến đê kiểm soát lũ (dài 1.417 km) và 491 tuyến bờ bao lửng (dài 2.406 km), làm rõ thực trạng các ô bao khép kín quy mô nhỏ từ 100 đến 300 ha làm suy giảm khả năng thau chua, đẩy mặn tự nhiên của hệ thống kênh rạch.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm ứng phó toàn diện với xâm nhập mặn:

  • Xây dựng và nâng cấp hệ thống cống đập ngăn mặn tự động hóa tại các cửa kênh chính thuộc khu vực dự án Bảo Định và Bắc Đông nhằm kiểm soát hoàn toàn ranh mặn 4‰ trước năm 2025, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An chủ trì thực hiện.
  • Nạo vét và mở rộng mặt cắt 279 km kênh trục dọc (như kênh Phước Xuyên, kênh 79, kênh Bo Bo) và 240,3 km kênh trục ngang (như kênh Hồng Ngự, kênh Đồng Tiến - Dương Văn Dương) nhằm tăng lưu lượng tiếp ngọt từ sông Tiền thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2020 - 2025, do Chi cục Thủy lợi quản lý.
  • Thiết lập hệ thống trạm quan trắc độ mặn tự động và truyền số liệu trực tuyến tại 20 vị trí xung yếu dọc hai bờ sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây đến năm 2023, do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường vận hành.
  • Điều chỉnh lịch thời vụ và chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn cho hơn 9.000 ha đất nông nghiệp thường xuyên bị ảnh hưởng tại các huyện Cần Đước, Cần Giuộc và Tân Trụ trước năm 2025, do Ủy ban nhân dân các huyện chỉ đạo các hợp tác xã địa phương triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường: Khai thác bộ số liệu mô phỏng để quy hoạch hệ thống thủy lợi, lập quy trình vận hành đóng mở cống ngăn mặn và quản lý dòng chảy mùa kiệt.
  • Kỹ sư và chuyên gia thủy văn: Tham khảo quy trình thiết lập mô hình MIKE 11 HD-AD, kỹ thuật xử lý điều kiện biên thủy triều phức tạp và phương pháp xác định hệ số khuếch tán cho các mạng lưới kênh rạch tương tự.
  • Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Biến đổi khí hậu và Quản lý tài nguyên nước: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình về mô hình hóa chất lượng nước vùng đồng bằng ven biển chịu ảnh hưởng bán nhật triều.
  • Chính quyền địa phương và các hợp tác xã nông nghiệp tại Long An: Vận dụng bản đồ phân bố ranh mặn để bố trí thời vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu, hạn chế tối đa nguy cơ thiệt hại mùa màng do thiếu nước ngọt.

Câu hỏi thường gặp

Ranh mặn 4‰ có ý nghĩa kỹ thuật và nông nghiệp như thế nào trong nghiên cứu?
Nồng độ mặn 4‰ là ngưỡng giới hạn sinh lý tối đa mà đa số giống lúa thuần và hoa màu tại Đồng bằng sông Cửu Long chịu đựng được trước khi bị suy giảm năng suất hoặc chết cháy lá. Trong tính toán thủy văn, đây là chỉ tiêu kỹ thuật then chốt để khoanh vùng cách ly nguồn nước tưới và kích hoạt quy trình đóng cống ngăn mặn trên toàn hệ thống thủy lợi.

Vì sao mô hình MIKE 11 lại phù hợp nhất để mô phỏng thủy văn hệ thống sông Long An?
Mô hình MIKE 11 giải hệ phương trình Saint-Venant bằng sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu, cho phép giải quyết bài toán thủy lực trên mạng lưới hơn 3.893 km kênh rạch đan xen dạng mắt lưới của tỉnh. Mô hình duy trì tính ổn định số rất cao khi mô phỏng chế độ bán nhật triều phức tạp kết hợp dòng kiệt thấp.

Yếu tố tự nhiên nào đóng vai trò chính làm gia tăng độ mặn trên sông Vàm Cỏ?
Sự suy giảm lưu lượng nước ngọt mùa kiệt xuống dưới 9 m3/s kết hợp biên độ bán nhật triều lớn từ cửa Soài Rạp là động lực cơ bản. Bên cạnh đó, gió chướng Đông Bắc hoạt động mạnh với tần suất 60 - 70% vào tháng 2 và 3 hàng năm đã nâng cao mực nước triều, đẩy nêm mặn đi sâu hơn 100 km.

Dữ liệu đợt hạn mặn năm 2016 đóng góp vai trò gì trong việc kiểm định mô hình?
Đợt thiên tai năm 2016 mang tính chất cực đoan lịch sử với 9.490,89 ha cây trồng bị ảnh hưởng, cung cấp chuỗi số liệu thực đo tối hạn để thử thách độ bền vững của mô hình. Kết quả kiểm định đạt hệ số Nash-Sutcliffe trên 0,85 khẳng định mô hình hoàn toàn đủ năng lực dự báo trong các tình huống thời tiết bất lợi nhất.

Các địa phương hạ lưu Vàm Cỏ cần làm gì để chủ động lấy nước ngọt trong mùa khô?
Chính quyền cơ sở cần theo dõi dữ liệu quan trắc độ mặn theo từng giờ triều để tranh thủ vận hành công trình lấy nước ngọt khi độ mặn dưới 1 g/l vào kỳ triều kém. Đồng thời, địa phương cần tận dụng hệ thống 240,3 km kênh trục ngang để tích trữ tối đa nước ngọt chuyển từ sông Tiền trước khi đỉnh mặn tháng 3 xuất hiện.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công bộ công cụ mô phỏng tích hợp MIKE 11 HD và AD với độ tin cậy cao, đạt hệ số Nash-Sutcliffe trên 0,85 cho cả dòng chảy và độ mặn.
  • Định lượng chi tiết quy luật xâm nhập mặn trên 3 trục sông chính tỉnh Long An, xác định ranh mặn 4‰ đã lấn sâu hơn 100 km trong đợt hạn mặn lịch sử năm 2016.
  • Làm rõ cơ chế tương tác giữa chế độ bán nhật triều biển Đông, gió chướng mùa khô và sự suy giảm dòng chảy thượng nguồn Mê Kông đến quá trình mặn hóa nguồn nước mặt.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, giúp bảo vệ an toàn nguồn nước cho hơn 449.494 ha đất tự nhiên toàn tỉnh.
  • Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ công tác dự báo, cảnh báo sớm và quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp bền vững.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng mô hình tính toán cho các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến năm 2030 và tầm nhìn 2050. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp bộ thông số thủy lực và bản đồ phân bố mặn từ công trình này để ứng dụng vào công tác điều hành tài nguyên nước tại địa phương.