CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tỉnh Kiên Giang 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Kiên Giang nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có đặc thù riêng biệt vừa có đồng bằng, có núi, có biển và có đảo. Tổng diện tích tự nhiên là 6.346,13 km2, bằng 1,90% diện tích cả nước và 15,78% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chiều dài lớn nhất theo hướng Đông Nam – Tây Bắc khoảng 120 km, chiều rộng lớn nhất theo hướng Đông – Đông Tây khoảng 60 km. Kiên Giang nằm trong khoảng tọa độ địa lý: từ 101030’ đến 105032’ kinh độ Đông và từ 9023’ đến 10032’ vĩ độ Bắc (Hình 1).
- Phía Đông Bắc giáp các tỉnh: An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang. - Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu. - Phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan nơi có hơn 200 km bờ biển và các đảo. - Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 56,8 km.
- Phần đất liền của Kiên Giang có chiều dài bờ biển hơn 200 km với hơn 100 cửa sông, kênh rạch thoát nước ra biển. Ranh giới biển của Kiên Giang giáp với các nước Campuchia, Thái Lan và Malayxia. Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố: Rạch Giá và Hà Tiên và 13 huyện (huyện Kiên Lương, Giang Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Vịnh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, Phú Quốc, Kiên Hải), trong đó có 2 huyện đảo: Phú Quốc và Kiên Hải với hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ nằm xa đất liền.2 Địa hình, địa mạo Kiên Giang có địa hình đa dạng bao gồm bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo. Địa hình phần đất liền tương đối bằng phẳng (trừ một số vùng có núi cao ở khu vực TGLX) có hướng thấp dần từ Đông Bắc (độ cao trung bình 0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình 0,2 – 0,4 m).
Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi phối rất lớn đến khả năng tiêu úng vào mùa mưa và diễn biến mặn của khu vực vào các tháng mùa khô. Có thể chia tỉnh Kiên Giang thành 4 vùng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com địa hình, địa mạo khác nhau: Vùng Biển và Hải đảo, Vùng Tứ giác Long Xuyên, Vùng Tây sông Hậu, vùng U Minh Thượng (Hình 2). Hình 1: Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình 2: Sơ đồ phân chia địa hình tỉnh Kiên Giang a. Vùng Tứ giác Long Xuyên Vùng Tứ giác Long Xuyên có diện tích tự nhiên khoảng 244.230 ha bao gồm các đơn vị hành chính: Thành phố Hà Tiên, các huyện Hòn Đất, Kiên Lương và một phần huyện Tân Hiệp, Châu Thành.
Vùng Tứ giác Long Xuyên tiếp giáp với biên giới Campuchia và vịnh Thái Lan. Địa hình có hướng dốc từ Tây Bắc sang Đông Nam, cao độ biến đổi từ 0,2 – 1,2 m, nơi cao nhất là dãi đất tiếp giáp Campuchia có độ cao 0,8 – 1,2 m, nơi thấp nhất là vùng từ phía Tây Rạch Giá – Hà Tiên có độ cao biến đổi từ 0,2 – 0,7 m. Ven biển Rạch Giá – Hà Tiên có rải rác các đồi núi thấp cặp với Quốc lộ 80 tạo nên 1 bờ viền ngăn nước. Vùng Tây Sông Hậu Vùng Tây sông Hậu có diện tích tự nhiên khoảng 144.900 ha gồm các đơn vị hành chính: huyện Giồng Riềng, Gò Quao, một phần huyện Tân Hiệp, Châu Thành 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và thành phố Rạch Giá.
Đặc điểm địa hình có hướng dốc dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, độ cao biến đổi từ 0,2 – 0,8 m, nơi cao nhất là vùng phía Đông Tân Hiệp có độ cao từ 0,7 – 0,9 m, nơi thấp nhất là ven sông Cái Lớn và Cái Bé có độ cao từ 0,2 – 0,4 m. Vùng U Minh Thượng Diện tích tự nhiên khoảng 181.829 ha, gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng. Địa hình nghiêng dần về phía Tây, độ cao biến đổi từ 0,1 – 1,1 m, nơi cao nhất gần trung tâm vườn Quốc gia U Minh Thượng, nơi thấp nhất là vùng ven sông Cái Lớn có độ cao từ 0,1 – 0,4 m. Vùng này được giới hạn bởi sông Cái Lớn và tỉnh Cà Mau.
Vùng Biển và Hải đảo Diện tích tự nhiên khoảng 63.174 ha, bao gồm 2 huyện Kiên Hải, Phú Quốc và một số đảo thuộc huyện Kiên Lương. Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, một số đảo lớn có xen kẽ các đồng bằng nhỏ hẹp có phân bậc. Độ dốc trung bình từ 15 – 200 m, có nơi trên 200 m, nơi cao nhất là 600 m, thấp nhất là 20 m. Đặc điểm của vùng này chủ yếu là những hòn đảo nhỏ nên địa hình ở đây mang đặc thù riêng của nó; ở phần giữa đảo thường cao nhất và thoải đều dần 4 phía; riêng đảo Phú Quốc thì địa hình có phức tạp hơn và bị chia cắt bởi các sông, rạch; nơi có địa hình cao nhất là phía Bắc đảo và thấp dần về phía Nam đảo.2 Chế độ khí hậu 1.1 Nhiệt độ Nam Bộ nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng có nền nhiệt độ cao nhất ở nước ta, nhiệt độ trung bình năm tại Rạch Giá là 27,6oC.
Biên độ năm của nhiệt độ vào khoảng 2 – 3,5oC, ở Kiên Giang không hình thành mùa nhiệt, tuy có chịu ảnh hưởng phần nào của gió mùa đông bắc, nhưng ngay cả tháng giêng là tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm cũng có nhiệt độ trung bình là 25,7oC. Trong năm, tháng 4,5 có nhiệt độ trung bình cao nhất tại Rạch Giá là 29,0oC. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bảng 1: Số liệu nhiệt độ Trung bình tháng trạm Rạch Giá từ 1990-2017 Đơn vị đo:0C Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB Rạch Giá 25.6 1 Nguồn: Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Kiên Giang Hình 3: Biểu đồ các yếu tố khí tượng trạm Rạch Giá giai đoạn 1980-2017 1.2 Nắng Tổng số giờ nắng trong năm ở Kiên Giang bình quân từ 2.720 giờ cả trên đất liền cũng như ngoài hải đảo. Phân bố theo thời gian về nắng có liên quan mật thiết với mùa mưa.
Vào mùa mưa có số giờ nắng bình quân trong năm là 1.285 giờ, giảm đáng kể so với mùa khô là 1. Tháng 4 có số giờ nắng nhiều nhất là 292 giờ. Tháng 8 có số giờ nắng ít nhất là 178 giờ [2].3 Lượng bốc hơi Lượng bốc hơi trung bình năm ở các khu vực khoảng 1. Ở Rạch Giá lượng bốc hơi là 1.149,5 mm; ở Phú Quốc lên đến 1.
Lượng bốc hơi thông thường liên quan mật thiết với nhiệt độ, nắng, mưa, ẩm …. Lượng bốc hơi thấp nhất xảy ra ở tháng 10: Rạch Giá trung bình là 71,6 mm; Phú Quốc trung bình là 80,8 mm [2]. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Độ ẩm không khí Độ ẩm tương đối trung bình năm ở trạm khí tượng Rạch Giá là 82%. Độ ẩm phân hóa theo mùa, độ ẩm tương đối trung bình trong các tháng mùa khô chỉ đạt mức 76 – 80%, còn trong các tháng mùa mưa lên tới 83 – 88%.
Tháng có độ ẩm trung bình lớn nhất thường là những tháng giữa mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 9) [2].5 Mưa Là một tỉnh thuộc đồng bằng Nam Bộ, khí hậu ở Kiên Giang mang đầy đủ tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm được chia ra làm hai mùa rõ rệt: - Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. - Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm các huyện phần đất liền Kiên Giang dao động từ khoảng 1700-2400 mm. Bảng 2: Lượng mưa Trung bình tại các trạm tỉnh Kiên Giang từ 1990-2017 Đơn vị: mm Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Hà Tiên 22.5 Riềng An Biên 11.5 Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Kiên Giang Lượng mưa phân bố không đều theo thời gian.
Lượng mưa giảm dần từ Đông sang Tây. Mùa mưa, lượng mưa chiếm từ 78% đến 98%, trung bình 92% tổng lượng mưa trong năm. Các tháng mùa mưa có lượng mưa tháng trung bình từ 212 mm đến 389 mm. Trong mùa mưa, tuy có lượng mưa lớn nhưng cũng có thời kỳ mưa ít hoặc không mưa kéo dài từ 7 – 15 ngày gây hạn cho cây trồng trong tháng 6 hoặc tháng 7, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mặt khác có năm, mùa mưa đến sớm, nhưng cũng có năm mùa mưa đến muộn vào cuối tháng 5.
Mùa khô, lượng mưa chỉ từ 2% đến 22%, trung bình 8% tổng lượng mưa trong năm. Các tháng mùa khô có lượng mưa tháng trung bình từ 14 mm đến 98 mm [2].6 Gió Chế độ gió ở Kiên Giang được đặc trưng bởi sự luân phiên tác dộng của các hệ thống hoàn lưu gió mùa nên khá ổn định. Mùa Đông hướng gió thịnh hành là Đông Bắc hoặc Bắc Đông Bắc, còn mùa hè hướng gió thịnh hành là gió Tây Nam hoặc Nam Tây Nam. Tuy nhiên trong từng thời gian nhất định, tuỳ theo mức độ ảnh hưởng của các hệ thống mà hướng gió có thể thay đổi ít nhiều so với hướng gió nói trên.
Trong thời kỳ chuyển tiếp từ đông sang hè hướng gió có thể là Đông, Đông Nam hoặc Đông Đông Nam, từ mùa hè sang đông đối với miền Tây Nam Bộ không thấy sự quay gió từ từ mà nó đột ngột chuyển sang những hướng chính, thịnh hành của mùa Đông (Hình 4)[2]. Hướng gió tháng 2/2016 Hướng gió tháng 3 năm 2016 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hướng gió tháng 4 năm 2016 Hướng gió tháng 5 năm 2016 Nguồn: Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Kiên Giang. Hình 4: Biểu đồ hoa gió 10 phút trạm Rạch Giá các tháng mùa khô 2016 Đánh giá chung Kiên Giang thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều; có nền nhiệt cao, không phân hóa theo mùa. Khí hậu ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở phía bắc không có được như không có rét, ít có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và gia súc sinh trưởng, phát triển quanh năm.
Điều khó khăn chủ yếu là sự biến động thất thường trong chế độ mưa thường gây trở ngại lớn cho sản xuất và đời sống. Vì vậy, công tác thủy lợi của tỉnh phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quan trọng trong việc chủ động tưới tiêu đảm bảo tốt nguồn nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp phát triển cũng như chủ động ứng phó với BĐKH, NBD và XNM.