Đặt vấn đề Hoa Lan huệ (Hippeastrum sp.), có tên gọi khác là lan tứ diện, có nguồn gốc châu Mỹ nhiệt đới. Ngày nay lan huệ được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hoa lan huệ có màu sắc sặc sỡ như đỏ, đỏ cam, hồng, vàng, trắng xanh…vv. Hoa mọc thành từng cụm, mỗi cụm thường có 3 đến 4 hoa mọc ra và tạo gần như khối hình cầu.
Hoa lan huệ là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Hoa lan huệ được sử dụng phổ biến ở các nước Châu Âu. Trên thế giới, hoa lan huệ thường được xử lí ra hoa sớm để trồng chậu trong dịp Giáng sinh và năm mới. Ở Việt Nam, hoa lan huệ được trồng khá phổ biến để chơi trong dịp Tết Nguyên Đán, hoa không xử lý sẽ nở vào tháng 3 đến tháng 4 hàng năm.
Hoa Lan huệ là cây được các gia chủ chọn trồng làm các chậu hoa trong nhà đặt ở các kệ bàn, hoặc cửa sổ hoặc kệ của hành lang. Màu sắc hoa kết hợp cùng với kiểu dáng hoa đã làm cho không gian và khuân viên ngôi nhà thêm điểm nhấn và nét đẹp riêng. Ngoài ra nhiều gia đình còn chọn các chậu treo để trồng ở ban công, cây còn được trồng nhiều công trình lớn như công viên, khu đô thị, khách san nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, công trình xây dựng khác.vv chọn làm cây trồng trong các bồn lớn. Hoa lan huệ tỏa mùi thơm rất lạ, mùi thơm nhẹ nhàng.Mùi thơm của hoa lan huệ có thể giúp chúng ta thư giãn, mùi thơm không quá nồng, dễ chịu.Đặc điểm của hoa lan huệ có thể sống trong đất hoặc có thể sống trong môi trường thủy canh.
Hoa lan huệ cắt cành được vào dịp tết.Ngoài ra hoa lan huệ còn đóng góp vào nền y khoa, đặc biệt bên đông y. Các sản phẩm 1 từ cây lan huệ có thể sử dụng để chữa các bệnh như cầm máu, sưng, nhiễm trùng… Hiện nay, nguồn cung cấp giống hoa lan huệ còn hạn chế, một số giống phải nhập từ nước ngoài (Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản,.) nên giá củ giống cao, đặc biệt là các giống hoa cánh kép. Vì thế công tác lai tạo giống lan huệ mới là cần thiết. Ở Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã lai tạo lan huệ qua nhiều năm đạt được một số kết quả công bố trên tạp chí,… lai tạo thêm được nhiều giống mới có nhiều màu sắc phù hợp với mục đích trồng chậu trang trí trong cảnh quan, đáp ứng được nhu cầu của người chơi.
Nhưng để đánh giá chính xác và ổn định của giống lai lan huệ mới cần đánh giá qua nhiều năm. Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá một số đặc điểm sinh học , lai tạo và sử dụng hoa lan huệ trong trang trí tại Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1.Mục đích Dựa trên kết quả nghiên cứu để chọn ra những dòng lai có đặc tính phù hợp về các đặc điểm hoa (kích thước, màu sắc, hình dáng.) để phục vụ cho sản xuất hoa cắt cành, hoa trồng chậu và sử dụng hoa Lan Huệ trong trang trí cảnh quan, nội thất.Yêu cầu -Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng( chu vi củ, chiều cao ngồng, đường kính hoa, độ bền trang trí,…) của các dòng lan huệ lai. -Lai tạo một số tổ hợp lai Lan huệ năm 2022 tại Gia Lâm – Hà Nội.
2 -Thiết kế sử dụng cây Lan Huệ trong trang trí. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về chi Hippeastrum. Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố.
Cây hoa Lan Huệ có tên khoa học là Hippeastrum sp., thuộc lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) phân lớp hành (lilidae), bộ hành (liliales), họ hành (liliaceae), chi (Hippeastrum) (Nguyễn Tiến Bân, 1997). Chi này có khoảng 90 loài và hơn 600 dạng lai đa dạng về kích thước, hình dạng và màu sắc hoa vô cùng đa dạng. Ở nước ta theo thực vật chí Việt Nam đã công bố về chi Lan Huệ thì hiện chỉ có 2 loài đó là loài Hippeastrum equestre (Lan Huệ hay Loa kèn đỏ) và loài Hippeastrum reticulatum (Lan Huệ mạng) (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Tuy nhiên, tính đến tháng 11 năm 2013, WCSP (World Checklist of Selected Plant Families) đã chấp nhận Hippeastrum có 91 loài (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014).
3 Cây hoa Lan Huệ có nguồn gốc từ Châu Mỹ (Merrow, 1998; Traub, 1949). Đây là loài cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (dẫn theo Phạm Thị Minh Phượng & cs, 2014). Năm 1928, Eduard Frederick Poepping đã tìm thấy hoa Lan Huệ đầu tiên trong quá trình tìm kiếm ở Chilê. Năm 1946, Lan Huệ được trồng trọt ở Nam Phi.
Hầu hết các cây hoa trong chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật Bản, Isarel, Ấn Độ, Bzazil và Austrlia (Kathie Carter, 2007). Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều loài trong chi Hippeastrum nhưng sự phân bố của chúng là khá đa dạng, có thể bắt gặp các loài hoa trong chi này khắp nơi trên cả nước từ Bắc vào Nam, từ vùng núi đến đồng bằng. Cây Lan huệ (Hippeastrum Herb) ở Việt Nam còn gọi là Loa kèn đỏ, Mạc Chu Lan, Tứ Diện hoặc Lan Huệ theo ngôn ngữ từng vùng) được du nhập trồng làm vườn làm cảnh, hay trông chậu khắp các vùng trên cả nước với nhiều màu sắc như: đỏ dại, đỏ sọc trắng, hồng đảo, đỏ nhung, trắng (Phạm Thị Minh Phượng & cs 2014). Đặc điểm thực vật học.
Rễ: Lan huệ thuộc bộ Lilliales nên có dạng rễ chùm gồm nhiều rễ phụ tương đối đồng đều về kích thước, rễ có màu trắng đến trắng ngà hoặc vàng, rễ mọc ra từ phần đế củ (thân rễ), phân nhánh mạnh, ăn nông 5-10cm ( Phạm Đức Trọng, 2014). Hình ảnh rễ Lan Huệ. (Nguồn: Giao lưu- Mua bán: Lan huệ/ Loa kèn/ Amaryllis/ Những loại hoa có củ) Thân: Cây Lan Huệ có thân hành hình cầu hoặc cầu dẹt, có lớp cỏ mỏng màu nâu bao ngoài hay còn gọi là lớp áo.Thân chính của cây hoa lan huệ chính là đế củ. Củ cây hoa lan huệ có nhiều lớp liên tiếp nhau bao quanh.
Các lớp trong của của có màu xanh non hay trắng ngà,giòn và chứa nước, lớp ngoài cùng có màu nâu còn gọi là lớp áo (Vũ Thị Hoa,2016)Một củ già thành thục gồm: Đế củ, vảy già, vảy mới ra, trục thân sơ cấp, trục thân thứ cấp, đỉnh sinh trưởng. Hình ảnh thân Lan Huệ Lá: tập trung ở gốc gần như thành 2 dãy, phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, mọc đối nhau thành hai hàng, lá dài, cứng, có nhiều gân song song (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Màu sắc lá chủ yếu lá màu xanh, ngoài ra một số dòng có lá màu tía. Gốc lá dạng bẹ ôm lấy nhau.
Lá bắc tổng bao 2, dạng mo, gồm 2 cái, mỏng, kích thước 6-7 cm x 3-4 cm, màu trắng xanh (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014). Hình ảnh lá Lan Huệ. Hoa: Hoa lan huệ mọc ra từ một cuống tròn to, cuống mọc lên từ nách lá (cao 20-30 cm). Mỗi cành thường có 4 nụ hoa nên còn gọi là huệ tứ diện.
Trục hoa hay ngồng hoa có hình trụ, thẳng đứng, rỗng trong , dài từ 25-70 cm, đường kính từ 1,5-4,0 cm. Hoa to, đều, lưỡng tính,màu sắc sặc sỡ, có cuống, bao hoa hình phuễu, nằm ngang,dạng tràng, có hai dạng hoa là Lan huệ đơn và Lan huệ 6 kép. Hoa Lan huệ đơn với6 cánh hoa xếp thành hai lớp so le nhau, mỗi lớp 3 cánh xếp hình tam giác. HoaLan huệ kép có nhiều cánh hoa xếp từ 3 lớp cánh trở lên (Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
Hoa Lan huệ có nhị 6, chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa, bao phấn 2 ô, đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, 3 ô, đính noãn trung trụ ; mỗi ô có nhiều noãn. Vòi nhụy dài, mảnh, đầu nhụy dạng đầu hoặc 3 thùy (dẫn theo TrầnThị Quỳnh, Trần Văn Tuân, 2015).Hoa Lan Huệ thường có 3 dạng: hoa đơn, hoa kép và bán kép. Hoa thuộc dạng cánh đơn có 6 đài (ba hoa lá đài bên ngoài, ba cánh bên trong, có vẻ ngoài tương tự nhau) (Kathie Carter, 2007).
Hoa cánh kép có số cánh hoa/ bông lớn hơn 12 cánh, hoa bán kép có số cánh lớn hơn 6 và nhỏ hơn 12 cánh. Màu sắc hoa phong phú bao gồm các màu cơ bản: đỏ, hồng, trắng, cam và sự kết hợp giữa các màu tạo nên những đặc điểm mới lạ của bông hoa các đường gân trên cánh hoa, các chấm trên cánh, màu sắc viền cánh hay màu sắc họng hoa. Hoa Lan Huệ có thể có mùi thơm, thơm nhẹ hoặc không thơm. Hoa đơn Hoa kép 7 Hình 2.
Hoa Lan Huệ. Quả và hạt: nang hình cầu hoặc hơi dẹt, mở ở khe lưng thành 3 mảnh. Hạt nhiều, dẹt, màu đen hoặc nâu đậm, nội nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ. Kích thước hạt thay đổi tùy thuộc vào giống khác nhau (Nguyễn Thị Đỏ,2007).
Hình ảnh quả và hạt Lan Huệ. Yêu cầu ngoại cảnh của cây Lan Huệ. Đất và dinh dưỡng. Lan Huệ thích hợp trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh, có độ pH 6,0 - 7,8, pH tối thích từ 6,0 - 6,8.
Đất giàu chất hữu cơ sẽ giúp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất (Kathie Carter, 2007). Cần cung cấp dinh dưỡng đầy đủ cho cây thường xuyên bón phân hữu cơ,phân vi sinh.Ngoài ra cần cung cấp dinh dưỡng cho cây qua lá, nhất là vào thời trưởng và phát triển tốt thì yếu tố dinh dưỡng là vô cùng quan trọng đặc biệt là ba yếu tố đạm, lân, kali.Tuy nhiên mỗi giai đoạn lại cần chế độ dinh dưỡng 8 khác nhau nhất là trong thời kỳ ra hoa và khi cây đang phát triển bộ lá cần lượng phân bón sản lượng củ, củ con và hoa tối đa. Đặc biệt, sau vụ hoa, kích thước củ sẽ giảm, để đảm bảo được chất lượng hoa cho vụ sau cần cung cấp dinh dưỡng kịp thời để củ phục hồi sớm nhất, giúp cây có đủ dinh dưỡng cho vụ hoa tiếp theo. Lan Huệ rất mẫn cảm với muối, khi nồng độ muối trong đất cao, cây sẽ không hút được nước, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, ra hoa.
Hàm lượng muối trong đất không cao hơn 1,5mg/cm2, lượng hợp chất clo không vượt quá 1,5 mmol/lít (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014). Lan Huệ là là cây có khả năng chịu hạn tốt nhưng chịu úng kém.