Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chương 4: Đề xuất định hướng quy hoạch sử dụng đất của huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
TIEU LUAN MOI download 4: skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phân loại các nhóm đất sử dụng Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau (Điều 13 Luật đất đai năm 2003): 1/ Nhóm đất nông nghiệp: Là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm các loại đất: a) Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; e) Đất rừng đặc dụng; f) Đất nuôi trồng thuỷ sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. 2/ Nhóm đất phi nông nghiệp: bao gồm các loại đất: a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; d) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ; f) Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; g) Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; TIEU LUAN MOI download 5: skknchat@gmail.com h) Đất nghĩa trang, nghĩa địa; i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; j) Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. 3/ Nhóm đất chưa sử dụng: bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.
Các yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến sử dụng đất Quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất chịu tác động của tổ hợp các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội: 1. Các yếu tố tự nhiên - Vị trí địa lý: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng đất. Nơi có vị trí thuận tiện về giao thông, gần các thành phố lớn thì việc đầu tư và tận dụng những nguồn lực đất đai, lao động cũng như khai thác tiềm năng đất đai sẽ có ưu thế hơn so với các khu vực xa trung tâm đô thị hoặc các vùng miền núi. - Yếu tố địa hình: Là một trong những yếu tố quyết định đến việc sử dụng đất, đặc biệt đối với mục đích nông, lâm nghiệp.
Sự khác nhau giữa địa hình các vùng, khu vực dẫn đến sự khác nhau vế đất đai và khí hậu. Từ đó ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và cơ cấu các loại cây trồng. Đối với đất phi nông nghiệp thì địa hình phức tạp sẽ dẫn đến nhiều khó khăn cho việc xây dựng công trình và thi công. - Điều kiện khí hậu, thuỷ văn: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sử dụng đất cho mục đích sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người.
Sự khác nhau về nhiệt độ giữa các vùng ảnh hưởng đến sự phân bố cây trồng và thực vật. Cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng cũng tác động đến quá trình quang hợp và sinh trưởng của cây trồng. Lượng mưa nhiều hay ít có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nước tưới và giữ độ ẩm cho đất. Hệ thống sông suối, ao hồ có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức sử dụng đất đai, nhất là tại khu vực miền núi.
Chúng vừa là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới vừa là nơi tiêu nước khi có úng ngập. - Yếu tố thổ nhưỡng: Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến việc sử dụng đất phục vụ cho mục đích phát triển nông nghiệp bởi vì mỗi loại cây trồng TIEU LUAN MOI download 6: skknchat@gmail.com thích hợp với các loại đất và chất lượng đất nhất định. Độ phì nhiêu của đất là yếu tố tác động mạnh đến sinh trưởng của cây trồng và năng suất, sản lượng. - Thảm thực vật: Thảm thực vật là một yếu tố môi trường có vai trò rất quan trọng.
Thảm thực vật bao gồm các vùng rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng sản xuất, đồng cỏ, cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm,. Thảm thực vật tự nhiên là yếu tố điều tiết khí hậu, chế độ nước của sông, suối, chế độ nhiệt, ẩm trong đất, chế độ nước ngầm. Thảm thực vật còn là nguồn cung cấp lâm sản quý và là nguồn thức ăn quan trọng cho chăn nuôi gia súc. Trong nhiều trường hợp, nó còn tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp, làm nơi du lịch, nghỉ mát cho nhân dân.
- Tai biến thiên nhiên: Các hiện tượng bão, lũ, lụt, hạn hán, xói lở, trượt lở,.tác động mạnh và nhiều khi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sử dụng đất. Các yếu tố kinh tế - xã hội Bao gồm các yếu tố như dân số và lao động; mức độ tăng trưởng kinh tế; cơ cấu các ngành kinh tế và sự phát triển từng ngành; hiện trạng cơ sở hạ tầng; trình độ khoa học công nghệ; trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của người dân và chế độ chính trị xã hội (các chính sách về đất đai, chính sách môi trường, các yêu cầu về an ninh quốc phòng),.Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, nhu cầu về đất cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng, nhất là đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển cơ sở hạ tầng. Yếu tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định đối với việc sử dụng đất. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định tiềm năng và mức độ thích hợp của đất đai đối với các mục đích sử dụng.
Còn việc sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có. Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường. Sử dụng đất hợp lí và bền vững đất đai ”Sử dụng hợp lý đất đai là sự sử dụng phù hợp với lợi ích của nền kinh tế trong tổng thể, đạt hiệu quả nhất đối với mục đích đặt ra trong khi vẫn đảm bảo tác động thuận với môi trường xung quanh và bảo vệ một cách hữu hiệu đất đai trong quá trình khai thác sử dụng” V. TIEU LUAN MOI download 7: skknchat@gmail.com Năm nguyên tắc chính đóng vai trò nền tảng của việc sử dụng đất bền vững [5]: - Duy trì nâng cao sản lưởng (khả năng sản xuất) - Giảm thiểu tối đa rủi ro trong sản xuất (An toàn) - Bảo vệ tiềm năng tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa chất lượng đất đai (Bảo vệ).
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế (khả năng thực hiện). - Có thể chấp nhận về mặt xã hội (khả năng chấp nhận). Khái niệm về tính bền vững của một hệ thống quản lý sử dụng đất đã được các nhà khoa học đưa ra, bao gồm 3 phương diện [5]: Bền vững về kinh tế (sử dụng đất phải cho năng xuất cao và tăng dần; chất lượng cao và giảm rủi ro; được thị trường chấp nhận), được sự chấp nhận của xã hội (đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng đất, thu hút lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân) và bền vững về môi trường (giảm thiểu lượng đất mất hàng năm, ngăn chặn được sự thoái hóa, ô nhiễm đất, bảo vệ được môi trường sinh thái). Nội dung và phƣơng pháp đánh giá hiện trạng sử dụng đất Đánh giá nói chung là sự ước lượng vai trò, giá trị của các đối tượng nghiên cứu và tùy thuộc vào mục đích mà cùng một đối tượng có thể đánh giá bằng nhiều cách khác nhau.
Nói cách khác, nhiệm vụ đánh giá thường gắn với mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cụ thể và từ đó có những chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh giá thích hợp. Tùy thuộc vào mức độ yêu cầu mà có thể phân chia đánh giá thành các hình thức sau: - Đánh giá định tính: đánh giá định tính đã có từ lâu, từ những cảm nhận đơn giản, chủ quan người ta phân chia thành các mức độ ”tốt, xấu” và ” nhiều, ít” , cho đến những phân tích, đánh giá một cách khoa học. Như vậy, đánh giá định tính cũng có hai mức độ là: định tính theo cảm tính của thời kỳ trước đây và định tính trên cơ sở nhận định có tính khoa học trong giai đoạn hiện nay. Đánh giá định tính là đánh giá tiềm năng hay mức độ thích hợp của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích sử dụng nhất định.
Kết quả đánh giá định tính thường không cụ thể thành các con số mà chủ yếu là đưa ra nhận xét. TIEU LUAN MOI download 8: skknchat@gmail.com - Đánh giá định lượng: Nếu không tiến hành đánh giá định lượng thì kết quả nghiên cứu sẽ phụ thuộc nhiều vào trình độ hay kinh nghiệm của nhà nghiên cứu và kết quả đánh giá sẽ thiếu khách quan, tính thuyết phục sẽ giảm. Kết quả đánh giá định lượng thường được biểu diễn dưới dạng các con số, giá trị cụ thể hoặc số lượng sản phẩm thu được. Qua xem xét các hình thức đánh giá ở trên, đối với đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai cần kết hợp cả hai phương pháp đánh giá định tính và định lượng để làm rõ mức độ phù hợp, hạn chế trong khai thác, sử dụng và hiệu quả đối với các mục đích kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ nghiên cứu.
Như vậy, đánh giá hiện trạng sử dụng đất là việc phân tích để làm rõ hiện trạng sử dụng các loại đất về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu sử dụng đất và hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong sử dụng đất đai.