Nghiên cứu: Đánh giá hoạt động truyền thông nghệ thuật biểu diễn truyền thống trên báo mạng

Tài liệu phân tích vai trò của báo mạng trong truyền thông nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Đánh giá thực trạng, ưu nhược điểm và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Quản lý xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học

2021

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của truyền thông nghệ thuật truyền thống trên báo mạng

Truyền thông nghệ thuật truyền thống là quá trình trao đổi thông tin về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống thông qua các nền tảng báo mạng hiện đại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phổ biến các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Báo mạng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các loại hình nghệ thuật như cải lương, chèo, nói rối, múa rối nước với công chúng rộng rãi. Điều này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn nâng cao nhận thức của xã hội về giá trị của những nghệ thuật độc đáo này. Việc đánh giá hiệu quả truyền thông trên báo mạng giúp xác định những thách thức và cơ hội để nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam.

1.1. Định nghĩa truyền thông và báo mạng

Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng và kiến thức giữa các cá nhân, tổ chức. Báo mạng là phương tiện truyền thông đại chúng hoạt động trên môi trường internet, cung cấp tin tức, thông tin nhanh chóng. Báo mạng có ưu điểm về tốc độ, phạm vi tiếp cận rộng và khả năng tương tác cao với độc giả, tạo điều kiện thuận lợi để phổ biến thông tin về các loại hình nghệ thuật truyền thống.

1.2. Vai trò của báo mạng trong bảo tồn di sản văn hóa

Báo mạng giữ vai trò cầu nối giữa các nghệ thuật biểu diễn truyền thống và công chúng hiện đại. Thông qua các bài viết, hình ảnh, video, báo mạng giúp quảng bá những giá trị văn hóa độc đáo, kích thích sự quan tâm của thế hệ trẻ. Điều này góp phần bảo tồn những di sản văn hóa quý báu, tránh chúng bị mai một trong xu hướng toàn cầu hóa.

II. Thực trạng hoạt động truyền thông nghệ thuật truyền thống trên các trang báo mạng

Hiện nay, hoạt động truyền thông về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống trên báo mạng Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Tần suất xuất hiện của các bài viết liên quan đến nghệ thuật truyền thống tương đối thấp so với các chủ đề khác. Nội dung truyền thông chủ yếu tập trung vào các sự kiện lớn, các lễ hội văn hóa mà ít khi có các bài phân tích sâu sắc về giá trị, ý nghĩa của từng loại hình nghệ thuật. Các trang báo mạng hàng đầu chưa có chiến lược truyền thông nhất quán về các nghệ thuật biểu diễn truyền thống, dẫn đến sự thiếu liên tục và hệ thống trong công tác thông tin tuyên truyền. Bên cạnh đó, chất lượng hình ảnh, video, và các yếu tố dẫn dắt người đọc còn chưa đủ để thu hút sự chú ý của khán giả trẻ.

2.1. Phân tích tần suất và nội dung xuất hiện

Khảo sát các trang báo mạng chính như VnExpress, Tuổi Trẻ Online, Dân trí cho thấy tần suất xuất hiện của bài viết về truyền thông các loại hình nghệ thuật truyền thống khá thấp. Trong năm 2020, bình quân mỗi tháng chỉ có 3-5 bài viết trên mỗi trang. Nội dung chủ yếu liên quan đến tin tức về các buổi biểu diễn, tuyên truyền sự kiện, ít có bài phân tích chuyên sâu.

2.2. Các bài học từ thực trạng hiện tại

Thực trạng cho thấy cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí, tổ chức văn hóa và các đơn vị nghệ thuật. Cần có chiến lược truyền thông rõ ràng, có tính bài bản để nâng cao nhận thức của xã hội về giá trị của các loại hình nghệ thuật truyền thống.

III. Ưu điểm và nhược điểm của báo mạng trong truyền thông nghệ thuật truyền thống

Báo mạng có những ưu điểm đáng kể trong việc truyền thông về các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Thứ nhất, tốc độ cập nhật thông tin nhanh chóng, cho phép cung cấp tin tức về các sự kiện, buổi biểu diễn kịp thời. Thứ hai, phạm vi tiếp cận rộng, có khả năng kết nối với độc giả trong và ngoài nước. Thứ ba, đa dạng hình thức truyền đạt thông tin qua chữ, ảnh, video, âm thanh. Thứ tư, khả năng tương tác cao với người đọc thông qua bình luận, chia sẻ. Tuy nhiên, báo mạng cũng gặp phải những nhược điểm trong công tác này. Chất lượng thông tin không đồng đều, có hiện tượng thông tin sai lệch, cường độ kiểm soát chất lượng nội dung chưa chặt chẽ. Ngoài ra, sự cạnh tranh thông tin gay gắt khiến các bài viết về truyền thông nghệ thuật truyền thống dễ bị "chìm" giữa biển thông tin.

3.1. Ưu điểm nổi bật của báo mạng

Báo mạng mang đến những thuận lợi lớn cho công tác truyền thông. Tốc độ cập nhật tin tức cho phép công chúng nắm bắt thông tin về các loại hình nghệ thuật biểu diễn kịp thời. Phạm vi tiếp cận rộng giúp các nội dung về nghệ thuật truyền thống vượt ra khỏi ranh giới địa lý. Định dạng đa phương tiện tạo nên sự hấp dẫn, dễ tiếp cận hơn cho người đọc.

3.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù có nhiều ưu điểm, báo mạng vẫn tồn tại những nhược điểm đáng chú ý. Chất lượng kiểm soát nội dung chưa nhất quán, dẫn đến thông tin sai lệch hoặc không chính xác. Sự cạnh tranh thông tin gay gắt khiến nội dung về truyền thông các loại hình nghệ thuật truyền thống dễ bị lãng quên. Cần cải thiện chất lượng kiểm soát editorial và xây dựng chiến lược truyền thông khoa học.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nghệ thuật truyền thống trên báo mạng

Để nâng cao hiệu quả truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống trên báo mạng, cần thực hiện những giải pháp toàn diện. Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan nhà nước đối với các trang báo mạng về nội dung truyền thông văn hóa. Cần có chính sách rõ ràng hỗ trợ các trang báo mạng đưa thông tin về nghệ thuật truyền thống thường xuyên. Thứ hai, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò quan trọng của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống thông qua các chiến dịch truyền thông có mục tiêu. Thứ ba, tăng cường hợp tác giữa các trang báo mạng, các tổ chức văn hóa, các trung tâm sự kiện và các đơn vị nghệ thuật để tạo ra các nội dung hấp dẫn, chất lượng cao. Thứ tư, phát triển đội ngũ nhà báo, biên tập viên có chuyên môn trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

4.1. Tăng cường quản lý và chỉ đạo từ cấp chính sách

Các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng chính sách rõ ràng, khuyến khích các trang báo mạng thường xuyên đăng tải thông tin về truyền thông các loại hình nghệ thuật truyền thống. Cần có hỗ trợ nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà báo tiếp cận và sâu sắc hóa các nội dung về nghệ thuật truyền thống. Đồng thời, kiểm soát chất lượng nội dung để đảm bảo tính chính xác và giá trị giáo dục.

4.2. Phát triển chiến lược hợp tác và nâng cao chất lượng nội dung

Cần thiết lập kênh hợp tác giữa báo mạng, các tổ chức văn hóa và đơn vị nghệ thuật. Phát triển các chương trình đào tạo cho nhà báo về truyền thông các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Tạo các nội dung đa phương tiện, hấp dẫn, dễ tiếp cận để thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/06/1999 về Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/1989 cũng có ghi thuật ngữ “báo mạng (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” để chỉ loại hình báo chí này. Báo mạng là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng internet. Báo mạng được xuất bản bởi tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng. có kết nối internet.

Khác với báo in, tin tức trên báo mạng được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật. Báo mạng cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của báo mạng đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống. Trong phạm vi giới hạn của đề tài cũng như khả năng của tác giả, đề tài sử dụng khái niệm báo mạng được dẫn theo khái niệm của TS.

Nguyễn Thị Trường Giang (Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản): “Báo mạng là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên 11 mạng internet, có ưu thế trong truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao”. Các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến. Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệ thuật hoặc một nghệ sỹ cụ thể nào đó. Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ở mức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt.

Chẳng hạn nghệ thuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật đắc nhân tâm, nghệ thuật dùng phím chuột của PC. Theo nghĩa này thường là một tài khéo đặc biệt nào đó. Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm. Đó là cách định nghĩa của từ điển Việt Nam, nhưng thực tế cho thấy tại Việt Nam có nhiều hình thái ý thức được coi là nghệ thuật chỉ dưới con mắt của một số người, phần đông còn lại không hiểu ý nghĩa mà hình thái đó muốn truyền tải và cho rằng đó là vô nghĩa.

Lý do ở đây là không phải nghệ thuật lúc nào cũng phải sinh động, cụ thể và gợi cảm, nói đúng hơn là không phải ai cũng nhìn hình thái đó một cách sinh động, cụ thể hay gợi cảm. Có một câu nói khá thú vị về nghệ thuật có thể bổ sung vào để giúp bạn hiểu rõ hơn: "Nghệ thuật không phải là sự thật khách quan, đó chỉ là những sự thật khác nhau qua những lăng kính khác nhau" Và nghệ thuật biểu diễn là một thành tố nằm trong nghệ thuật, còn nghệ thuật truyền thống chính là loại hình nghệ thuật được tồn tại lâu đời và được truyền từ đời này sang đời khác. Việt Nam là một dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng.

Chính những nét riêng đó đã làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.Cùng với văn hóa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa mang bản sắc văn hóa riêng từ lâu đời, phản ánh 12 truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc là tất cả những giá trị vật chất,tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật truyền thống đóng vai trò quan trọng trong cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân Việt Nam. Nhắc đến nền văn hóa phong phú, đa dạng của Việt Nam không thể không nhắc đến loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Các loại hình nghệ thuật truyền thống như Tuồng, Chèo, Cải lương, Múa rối. từ lâu đã đi vào tâm thức người Việt như sản phẩm tinh thần cần được gìn giữ.

Điểm đặc biệt của nghệ thuật biểu diễn truyền thống chính là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng. Loại hình nghệ thuật này không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Có thể kể ra một số loại hình tiêu biểu : Múa rối nước: Nói đến sự đời và phát triển của Múa rối nước thì qua một số công trình nghiên cứu của những người nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu về nghệ thuật Múa rối thì nghệ thuật Múa rối ở Việt Nam đã có từ lâu đời trong lịch sử, gắn liền với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Theo những nguồn tư liệu khác nhau về nghệ thuật Múa rối ở Việt Nam cho thấy: năm 1121 Múa rối nước đã được đưa vào biểu diễn để mừng thọ Vua, mà minh chứng đó là những dòng chữ Hán được khắc trên tấm bia đá cổ có từ triều đại nhà Lý mà hiện nay đang được đặt tại chùa Long Đọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Từ những con Rối riêng lẻ của một số các cá thể phát triển thành những Phường rối với nhiều những tích trò hay, lạ, đẹp mắt rồi được đem ra biểu diễn, 13 thi tài phục vụ nhân dân. Từ đây nghệ thuật Múa rối đã trở thành thú chơi tao nhã của nhân dân đồng bằng sông Hồng và đến nay đã trở thành một loại hình nghệ thuật truyền thống trong dân gian được gìn giữ, bảo tồn và phát huy. Như vậy có thể nói, Nghệ thuật Múa rối truyền thống của dân tộc Việt Nam ra đời vào khoảng thế kỷ XI – XII gắn liền với những điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh hoạt của người nông dân nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng Bắc bộ. Ra đời bởi trí tưởng tượng phong phú của những người nông dân chất phác đã góp phần hình thành nên nghệ thuật Múa rối.

Đây là một nét văn hóa truyền thống riêng biệt của dân tộc Việt Nam so với nền nghệ thuật Múa rối của các quốc gia trên toàn thế giới. Loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Nghệ thuật trò rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã… trên “sân khấu” này là những con rối (được làm bằng gỗ) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây… Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ.1 [PL- ảnh 1] Ca trù (ả đào): “Ca trù có nguồn gốc từ âm nhạc dân gian đồng bằng Bắc bộ, có thể ra đời từ sớm hơn nhưng hiện nay chúng ta chỉ có được tư liệu sớm nhất là vào thế kỷ XV, căn cứ vào bài thơ Nghĩ hộ tám giáp bài văn thưởng cho cô đào được giải sáng tác trước năm 1500 của Tiến sĩ Lê Đức Mao, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm. Bài thơ này chép trong Lê tộc gia phả (A.1855) có hai lần nhắc đến 2 chữ ca trù, cho biết: hát cửa đình là hát để thờ thần trong dịp đầu xuân và việc hát ca trù đã có dùng thẻ để thưởng cho đào nương.

Như vậy, đình Đông Ngạc, Hà Nội là nơi diễn ra lệ hát thờ từ rất sớm. Và đây cũng là nơi gìn giữ được tục lệ thưởng đào rất đặc sắc.” Đây là câu trả lời của Tiến sĩ Nguyễn Xuân 1 REDSVN, Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam: Lịch sử và hiện trạng, Theo CINET (2011) 14 Diện - chuyên ngành Hán Nôm, nhà nghiên cứu ca trù Việt Nam khi được Báo Hà Nội mới phỏng vấn về nguồn gốc của Ca trù2 Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù được xác định là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp cấp thế giới. Đây là Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng tác động rộng lớn, có phạm vi tới khoảng 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam bao gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ca trù là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đứng thứ hai sau ả đào pansori của Hàn Quốc.

Ngày 23 tháng 2 năm 2020 vừa qua, nhằm ngày giỗ tổ nghiệp ca trù, Google lần đầu tiên tôn vinh loại hình nghệ thuật truyền thống này bằng biểu tượng đặc biệt thay thế tạm thời trên trang chủ. [PL- ảnh 2] Chầu văn: Theo ý kiến của trang Hành trình tâm linh tổng hợp thì đa số các tài liệu về hát chầu văn đều thống nhất: Hát chầu văn có lịch sử hình thành lâu dài, ra đời sớm hơn so với các loại hình dân ca khác. Trong sách “Kiến văn tiểu lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) có ghi: “Thời Trần (1255- 1400) có lối hát trước mặt Đế Vương, gọi là hat Chầu”. Từ thế kỷ XVII, chầu văn phát triển mạnh ở Nam Định cùng với quá trình hình thành quần thể các di tích trọng điểm ở Nam Định như Phủ Dầy (xã Kim Thái, Huyện Vụ Bản), Phủ Qảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), đền Bảo Lộc (ã Mỹ Phúc, Huyện Mỹ Lộc),… sau đó phát triển ra các vùng lân cận như Hà Nam, Thái Bình và ngày càng lan tỏa ra nhiều vùng trên cả nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ