Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu Chương 2: Cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và số liệu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Các khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng Đối với lĩnh vực tự nhiên và môi trường, các khái niệm về tính dễ bị tổn thương đối với các tác nhân từ khí hậu là rất khác nhau. Có thể chỉ ra một số quan điểm về đánh giá tính dễ bị tổn thương như sau: (1) Quan điểm chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý, bao gồm phân tích điều kiện phân bố của các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động. (2) Quan điểm chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng và có tính đến khả năng chống chịu và khả năng tự phục hổi đối với các hiểm họa.
Quan điểm thứ nhất, Dow (1995) cho rằng tính dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là “khả năng bị thương” hoặc “thiệt hại tiềm năng”. Tác giả coi trọng tính dễ bị tổn thương về khía cạnh các tác nhân bên ngoài. Các yếu tố nội tại bên trong của đối tượng bị tác động hay năng lực thích ứng chưa được đề cập đến trong quan điểm của tác giả [14]. Quan điểm thứ hai, Blaikie et al.
(1994) cho rằng tính dễ bị tổn thương trong khuôn khổ khía cạnh con người (hay xã hội) như là “đặc tính của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại và phục hồi từ tác động của thiên tai” nó là sự kết hợp của các yếu tố nhằm xác định mức độ cuộc sống và sinh kế của con người bị tác động bởi những rủi ro bên ngoài. Tuy nhiên mức độ phơi nhiễm hoặc nguy cơ xảy ra tai biến không được đề cập trong khái niệm của các tác giả [10] Quan điểm thứ ba, Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, tính dễ bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những đối tượng bị ảnh hưởng. Khả năng đối phó được xác định như một sự kết hợp giữa sự kháng cự và khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng. Trong báo cáo đánh giá lần thứ II của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) (xem glossary of term, phụ lục B, Waston et al, 1996) định nghĩa tính dễ bị tổn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thương: “Mức độ mà những thay đổi khí hậu có thể hủy hoại hoặc gây hại tới một hệ thống; nó phụ thuộc không chỉ vào tính nhạy cảm của một hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng đối với những điều kiện khí hậu mới”.
Theo quan điểm trên, tính dễ bị tổn thương liên quan chặt chẽ đến những biến đổi khí hậu tiềm tàng và năng lực ứng phó thích nghi, nó được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện [10] Trong báo cáo lần thứ IV của IPCC 2007 [17], định nghĩa rằng: khả năng dễ bị tổn thương là “mức độ mà một hệ thống mẫn cảm và không có khả năng đối phó với những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu, kể cả tính dễ biến đổi khí hậu và các cực đoan khí hậu. Khả năng dễ bị tổn thương là một hàm số của đặc tính, độ lớn và tỷ lệ của biến đổi khí hậu và mức biến đổi mà một hệ thống bị phơi nhiễm, tính nhạy cảm cũng như năng lực thích ứng của hệ thống đó” Các định nghĩa nói trên đã ngày càng khẳng định sự phát triển của quan điểm thứ 3, trong đó các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động của con người và các tác động của thiên tai ngày càng có chiều hướng tăng lên. Do đó, các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện để thể hiện cách nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội của một hệ thống. Nghiên cứu này sử dụng quan điểm của IPCC (2012) trong việc đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên cách tiếp cận tổng hợp.
Xem xét đối tượng bị ảnh hưởng không chỉ trên góc độ tiếp xúc với những thiên tai mà còn dựa trên năng lực ứng phó và khả năng thích ứng với những tác động từ thiên tai đó. Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt Một số nghiên cứu định nghĩa về tính dễ bị tổn thương do lũ lụt là việc xem xét lựa chọn tiếp xúc, nhạy cảm, và các chỉ số đối phó của người dân trong khu vực nghiên cứu. Phân tích các chỉ số này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các đặc tính dễ bị tổn thương của người dân và tác động với nguy cơ lũ lụt [1]. Khi định lượng được tính dễ bị tổn thương của một vùng nào đó thì sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu Đối với tính dễ bị tổn thương khu vực ven biển với ngập lụt, Balica et al (2012) [12] xem xét tính dễ bị tổn thương với ngập như sau: “một hệ thống bị tổn thương bởi ngập lụt được xem xét bởi sự phơi nhiễm cộng với năng lực nội lực của hệ thống đó để 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống chịu, đối phó, hồi phục hoặc thích ứng đối với hoàn cảnh thực tế”.
Small và Nicholls (2003) cho rằng, một số lượng lớn dân số ở khu vực ven biển có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi ngập lụt và số lượng bị ảnh hưởng ngày càng tăng. Một mặt, một số khu vực dân cư được bảo vệ trước ngập lụt bởi các biện pháp công trình và phi công trình như một phần của chiến lược chống chịu. Tuy nhiên, một vài khu vực khác thì ngược lại, không có hệ thống ngăn ngừa ngập lụt hoặc có nhưng rất yếu. Hậu quả là gián đoạn hoặc mất mát về kinh tế, thiệt hại về người và tài sản.
Một s nghi n cứu ngo i nƣớc Tính dễ bị tổn thương có nguồn gốc từ nghiên những cứu nghèo đói và nó giải thích tại sao cùng một nguy cơ lại có ảnh hưởng khác nhau lên các đối tượng. Có nhiều loại tính dễ bị tổn thương khác nhau gắn liền với từng đối tượng hoặc hợp phần cụ thể như: xã hội, cơ sở hạ tầng, sinh thái, kinh tế [20]. Trong đó, các chỉ số dễ bị tổn thương đã được phát triển như một công thức đánh giá nhanh và thích hợp cho mô tả các mối liên quan về tính dễ bị tổn thương của các hợp phần khác nhau. Đơn giản nhất là những đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt vật lý, trong khi phức tạp hơn là đánh giá tổn thương về mặt kinh tế và xã hội.
Một số nghiên cứu đã xây dựng chỉ số tính dễ bị tổn thương và đã đươc áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia như: Bộ chỉ số tính dễ bị tổn thương xã hội (SoVI) sử dụng 42 biến về kinh tế-xã hội thuộc 11 yếu tố độc lập là: tuổi, dân tộc, giáo dục, cấu trúc gia đình, sư phụ thuộc về mặt xã hội, nghề nghiệp…) [15]. Những chỉ số này đã được áp dụng trong đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội khu vực ven biển ở Bắc Mỹ và Châu Úc. Năm 2010, McLaughlin và Cooper [19] đã phát triển một bô chỉ số tính dễ bị tổn thương đa tỷ lệ để xác định mức độ rủi ro tai biến tại các khu vực ven biển theo quy mô không gian: tính dễ bị tổn thương cho cấp độ quốc gia, cấp độ vùng và địa phương. Bộ chỉ số của McLaughilin và Cooper bao gồm 6 biến: Dân số, mạng lưới thông tin liên lạc và giao thông, di sản văn hóa, đường sắt, sử dụng đất và tình trạng bảo tồn.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ đề đến tính dễ bị tổn thương do xói lở và ngập lụt Rasmus Heltberg và Misha Bonch-Osmolovskiy (2010) [23] đã xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương để đánh giá tác động của đổi khí hậu đối với Tajikistan. Trong đó, các tác giả xem xét tính dễ bị tổn thương như là một hàm của mức độ phơi bày trước hiểm họa đối với thay đổi khí hậu và tai biến tự nhiên; mức độ nhạy cảm đối với những tác 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động do mức độ phơi bày trước hiểm họa đó và năng lực để thích ứng với biến đối khí hậu đã và sẽ diễn ra. Trong đó, việc xây dựng chỉ số cho các thành phần của tính dễ bị tổn thương dựa trên việc lấy trung bình cộng của 3 chỉ số phụ là mức độ phơi bày trước hiểm họa, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng. Arief Anshory Yusuf và Herminia A.
Francisco (2009) [11] đã dựa trên khung đánh giá về tính dễ bị tổn thương của IPCC (2007) để đánh giá tính dễ bị tổn thương cho khu vực Đông Nam Á. Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương cho cấp độ dưới quốc gia (quận, tỉnh). Đánh giá được thực hiện bởi việc chồng xếp các bản đồ tai biến khí hậu, bản đồ về mức độ nhạy cảm, và bản đồ về năng lực thích ứng. Nghiên cứu sử dụng số liệu về sự phân bố không gian của các tai biến liên quan đến khí hậu khác nhau tại 530 khu vực (tỉnh, thành phố) của Indonesia, Thái lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, và Philippin.
Bộ Môi trường Nepal (2010)[21] cũng sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu trên để đánh giá mức độ dễ bị tổn thương và thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương cho các thành phố của Nepal. Ngoài ra, Cutter et al. (2009) [13] đã đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội liên quan đến các hiện tượng tai biến tự nhiên. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã liệt kê các công trình nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương theo cách khía cạnh như: Khung lý thuyết trong đánh giá tính dễ bị tổn thương, những đánh giá tính dễ bị tổn thương, đo lường tính dễ bị tổn thương và xây dựng các chỉ số, bản đồ hóa và tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội.