CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA Dấ 1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể để gia súc tăng về kích thước (thay đổi về lượng) hay là quá trình tích lũy về khối lượng của các cơ quan và toàn bộ cơ thể, đồng thời là sự tăng lên về kích thước các chiều đo của cơ thể dựa trên cơ sở quy luật di truyền của sinh giới. Phát triển là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các đặc tính, chức năng của các bộ phận của cơ thể (thay đổi về chất).
Sự sinh trưởng và phát triển luôn đi đôi với nhau tạo nên sự phát triển của cơ thể. Hai quá trình này chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền và các yếu tố từ môi trường bên ngoài trong đó có sự tương tác giữa kiểu di truyền và ngoại cảnh. Sự sinh trưởng của dê thường tuân theo quy luật sinh trưởng không đồng đều theo giai đoạn và giới tính. Khả năng sinh trưởng của gia súc phụ thuộc vào giống, thức ăn, trạng thái sức khỏe của cơ thể, đồng thời còn phụ thuộc vào sự phát dục của giới tính, vào tập tính của gia súc và điều kiện môi trường sống.
Do vậy, con người có thể sử dụng các phương pháp chọn lọc, lai tạo giống, cùng với các tác động quản lý, nuôi dưỡng chăm sóc tốt, hợp lý để nâng cao khả năng sinh trưởng. Quá trình sinh trưởng và phát triển của gia súc chia làm hai giai đoạn chính: - Giai đoạn trong bào thai: Nguồn dinh dưỡng của thai hoàn toàn phụ thuộc vào cơ thể mẹ. Do vậy để thai phát triển bình thường, cần cung cấp cho cơ thể con mẹ một khối lượng thức ăn hợp lý, thỏa mãn nhu cầu các hoạt động sinh lý của dê cái trong các giai đoạn khác nhau của kỳ mang thai, bao gồm nhu cầu cho duy trì 6 của cơ thể mẹ, sự sinh trưởng và phát triển của thai và nhau thai cũng như sự tích lũy và tạo sữa đầu của con mẹ. - Giai đoạn ngoài thai: Lê Thanh Hải và cộng sự (1994) [20] cho biết: giai đoạn này là giai đoạn cơ thể chịu tác động trực tiếp với các điều kiện sinh thái môi trường.
Dựa vào những đặc điểm sinh lý đặc trưng, người ta chia một đời gia súc nói chung làm5 giai đoạn: (1) giai đoạn sơ sinh (thời kỳ bú sữa đầu), (2) giai đoạn sau sơ sinh cho đến cai sữa như dê thường cai sữa lúc 3 tháng tuổi, thỏ lúc 1 tháng tuổi, trâu bò lúc 6 tháng tuổi), (3) giai đoạn sau cai sữa đến khi phối giống lần đầu (dê khoảng 8-10 tháng tuổi, thỏ khoảng 5-6 tháng tuổi), (4) giai đoạn trưởng thành thành thục về tính đi vào sản xuất tính từ lúc tuổi phối giống lần đầu cho đến tuổi hết khả năng sản xuất và (5) giai đoạn hết khả năng sản xuất phải loại thải (dê khoảng 7-8 năm, thỏ khoảng 3-3,5 năm). Để đánh giá khả năng sinh trưởng của dê, người ta dùng phương pháp cân đo từng thời điểm (thường từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi), khi con vật trưởng thành kết hợp với giám định. Sau đó kết quả được biểu diễn bằng đồ thị, biểu đồ để đánh giá con vật qua sinh trưởng tích lũy, cường độ sinh trưởng tương đối, tuyệt đối và kích thước một số chiều đo cơ bản. Đặc điểm sinh sản Sinh sản là một đặc tính quan trọng của gia súc nhằm duy trì và bảo tồn nòi giống từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Động vật có vú thực hiện quá trình sinh sản thông qua sự thụ tinh giữa tinh trùng và trứng ở cơ quan sinh dục con cái. Để đánh giá sự sinh sản của chúng người ta thường thể hiện bằng các chỉ tiêu sinh sản như: tuổi thành thục về tính, tuổi phối giống lần đầu, tuổi động dục lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục lại sau đẻ, khoảng cách giữa hai lứa đẻ. Đồng thời, người ta còn quan tâm đến một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản như chu kỳ động dục, thời gian và những biểu hiện động dục của gia súc cái, thời gian mang thai của con cái. So với các gia súc ăn cỏ khỏc, dờ là con 7 vật có khả năng sinh sản cao.
Các đặc tính sinh sản của dê được biểu hiện ra ngoài khi chỳng đó thành thục về tính dục. Sự thành thục về tính của dê được xác định khi dê cái có biểu hiện thải trứng và dê đực sản xuất được tinh trùng và có biểu hiện tính dục. Tuổi thành thục tính dục thực sự đến muộn hơn, khi đó cơ thể con vật đã phát triển khả đầy đủ và có khả năng sinh sản, nhân giống được. Theo Devendra và McLeroy (1984) [58] thì tuổi thành thục về tính trung bình của dê là khoảng 4-12 tháng tuổi, khác nhau theo giống và chế độ dinh dưỡng.
Theo Đặng Xuõn Biờn (1993) [1] dê Cỏ thành thục về tính dục lúc 4-6 tháng tuổi. Sau khi thành thục về tính, lúc này dê mới thực sự bước vào thời kỳ sinh sản. Theo Devendra và Burns Marca (1983) [57], thời kỳ sinh sản của dê từ 7-10 năm. Trong thời kỳ sinh sản, dê đực thường có hoạt động sinh sản thường xuyên và liên tục, dê cái có hoạt động sinh sản theo chu kỳ động dục, chửa, đẻ, tiết sữa, nuôi con, rồi lại động dục trở lại.
Devendra và McLeroy (1984) [58] cho rằng ở dờ cú ba loại chu kỳ tính dục loại dài và ngắn là không phổ biến , còn loại vừa (17-23 ngày) chiếm tỷ lệ cao và phổ biến. Chu kỳ động dục của dê xảy ra cũng tương tự như nhiều loài gia súc khác thường kéo dài trung bình khoảng 21 ngày và cú cỏc giai đoạn với các biểu hiện ra ngoài: pha trước động dục (4-6 ngày), pha động dục (24-28h), pha sau động dục (5- 7 ngày) và pha yên tĩnh (11-16 ngày). Khi dê động dục, dờ cú cỏc biểu hiện: bồn chồn, kờu kộo đài, đuôi ve vẩy, âm hộ sưng đỏ, chảy dịch nhày, nhảy lên con khác và chịu cho con khác nhảy lên, giảm ăn uống, giảm tiết sữa. Vị trí xuất tinh của con đực là cuối âm đạo, thời gian trứng còn có khả năng thụ thai: 8-12h, tinh trùng có thể sống trong đường sinh dục của dê cái khoảng 24h.
Thời điểm rụng trứng của dê cái vào cuối thời gian động dục. Devendra và McLeroy (1984) [58] cho rằng, thời điểm rụng trứng của dê 21-36 h kể từ khi có biểu hiện động dục. Tác giả cho biết phối giống dê cái tốt nhất vào thời điểm 8 12h và phối lặp lại lần 2 vào thời điểm 24h kể từ khi dê cái bắt đầu động dục. Sự thụ tinh khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng.
Sau giai đoạn thụ tinh, dê cái bước vào giai đoạn mang thai. Thời gian mang thai của dê giao động từ 143-165 ngày (Đinh Văn Bình, 1995) [4]. Kết thúc giai đoạn mang thai là quá trình đẻ. Đây là quá trình sinh lý phức tạp dẫn đến việc đẩy thai và nhau thai ra khỏi cơ thể mẹ.
Toàn bộ quá trình sinh sản này được điều phối một cách nhịp nhàng gây cho gia súc động dục theo chu kỳ, giữa nuôi thai khi chửa và sinh con khi đẻ, tiết sữa nuôi con rồi lại chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo. Dê là loại gia súc đa thai có khả năng đẻ từ 1- 4 con/lứa với một số đặc điểm sinh sản như ở bảng 1. Một số đặc điểm sinh sản của dê lai F1 (Bách Thảo x Cỏ), Beetal và Jumapari F1 (Bách Thảo x Beeta Jumnapar Chỉ tiêu Cỏ) l i Tuổi động dục lần đầu (ngày) 187,8 256,5 255,7 Chu kỳ động dục (ngày) 21,4 20,0 19,9 Tuổi đẻ lứa đầu (ngày) 362,4 417 416,7 Thời gian động dục lại sau đẻ (ngày) 75,1 83,4 75,8 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày) 260,0 267,4 260,0 Thời gian mang thai (ngày) 150,4 151 153,0 Số con đẻ ra/lứa (con) 1,64 1,7 1,56 Số con đẻ ra/cỏi/năm (con) 2,27 2,29 2,16 (Nguồn: Đinh Văn Bình (1995) [4] 9 1. Đặc điểm về khả năng sản xuõt thịt và chất lượng thịt 1.
Khả năng cho thịt Để đánh giá khả năng sản xuất thịt của dê, ngoài việc theo dõi tốc độ sinh trưởng, phát triển theo các giai đoạn của gia súc, người ta còn phải theo dõi sự thay đổi về khối lượng và phẩm chất thịt, tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị tăng khối lượng, khối lượng giết mổ, khối lượng thịt xẻ… Năng suất thịt và phẩm chất thịt phụ thuộc vào yếu tố giống, cá thể, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, tuổi và tính biệt của gia súc. Nghiên cứu về khả năng sản xuất thịt và chất lượng thịt có thế xác định tuổi, thời gian giết thịt thích hợp, cơ cấu giống và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý để nâng cao khả năng sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi dê. Một số chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt 1. Các chỉ tiêu về năng suất thịt Các chỉ tiêu năng suất thịt gồm tuổi, khối lượng giết thịt, khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ, diện tích cơ thăn (M.
Sau khi mổ khảo sát, cần tính ra tỷ lệ các phần thân thịt: - Tỷ lệ thịt xẻ (%) = (khối lượng thịt xẻ/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ thịt tinh (%) = (khối lượng thịt tinh/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ xương (%) = (khối lượng xương/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ máu (%) = (khối lượng mỏu/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ chân (%) = (khối lượng chõn/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ phủ tạng (%) = (khối lượng phủ tạng/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ da (%) = (khối lượng da/khối lượng sống) x 100 - Tỷ lệ đầu (%) = (khối lượng đầu/khối lượng sống) x 100 - Diện tích cơ thăn (cm2): được đo ở vị trí thăn thịt có diện tích lớn nhất. Các chỉ tiêu phân tích chất lương thịt Chất lượng thịt bao gồm tất cả các đặc tính có lợi ích của sản phẩm. Các chỉ tiêu về chất lượng thịt có thể chia thành 4 nhóm sau: (1) Các chỉ số về giá trị dinh dưỡng: hàm lượng protein, lipid, khoáng, vitamin…, (2) Các chỉ tiêu cảm quan: mầu, mùi, vị, độ mềm, độ mọng, (3) các chỉ tiêu liên quan đến công nghệ chế biến và tiêu thụ sản phẩm: khả năng giữ nước, pH và (4) các chỉ tiêu về vệ sinh và an toàn thực phẩm: hàm lượng vi sinh vật, hàm lượng các chất tồn dư .